can đảm, tín thác chờ đón thời điểm giải cứu mà Thiên Chúa đã hứa - Chúa Nhật 19 Thường Niên Năm C

CHÚA NHẬT XIX MÙA THƯỜNG NIÊN C
Kn 18, 6 – 9; Lc 12, 32 – 48
Chủ đề: can đảm, tín thác chờ đón thời điểm giải cứu mà Thiên Chúa đã hứa.
* Kn 18, 6: đêm vượt qua đã được báo trước cho cha ông chúng con, để khi biết chắc lời hứa mình tin là lời hứa nào, các ngài thêm can đảm.
* Lc 12, 32.40: Đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em … Vậy anh em hãy sẵn sàng.
Chúng ta bước vào Chúa Nhật XIX Mùa Thường Niên. Lời Chúa hôm nay mời gọi các tín hữu hãy tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa; Tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã đoan hứa; Đồng thời phải có thái độ sống thích hợp theo đường lối Chúa trong khi chờ đợi “Giờ của Chúa (đừng quên mình cũng phải góp phần cho “giờ” mau đến).
Phần Thiên Chúa, Người đã có một dự tính cứu độ nhất quán, xuyên suốt từ lúc tạo thành vũ trụ cho đến ngày tận thế. Chắc chắn Người sẽ hoàn tất! Tuy nhiên nơi Thiên Chúa thể hiện ra dự tính cứu độ đó lại là dòng thời gian, là lịch sử của nhân loại hữu hạn bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Và đối tượng được hưởng dự tính cứu độ đó là con người với kiếp sống chỉ trong 100 năm; Nhất là thái độ đáp trả của con người không thuần nhất, những thăng trầm thất thường khiến Chúa phải uyển chuyển để mọi người đều có cơ may nhận được ơn cứu độ. Vì thế nếu hoàn cảnh cụ thể chúng ta đang sống chẳng may rơi vào thời điểm mà những nét tiêu cực trổi vượt hơn, lần lượt đè chìm những yếu tố tích cực khiến giai đoạn chúng ta đang sống phải chịu nhiều khốn đốn, thì đừng vì thế mà nản lòng không còn tin cậy, phó thác vào lời hứa của Thiên Chúa nữa.
Về phía con người, Lời Chúa hôm nay chú trọng vào thái độ tin cậy, phó thác, tin chắc rằng Thiên Chúa công minh sẽ hoàn tất lời hứa: LÚC NÀO – CÁCH NÀO - Ở ĐÂU là tùy vào sự khôn ngoan, tình yêu thượng trí của Người. Lòng tín thác đó sẽ là động lực hữu hiệu giúp kẻ tin vượt mọi thử thách, dám SỐNG NGAY TRONG GIÂY PHÚT CÒN NHIỀU TỐI TĂM CỦA HIỆN TẠI thánh Ý của Thiên Chúa cho từng người, cho cộng đoàn … chúng ta; Dám đảm nhận trách nhiệm Chúa trao trong hiện tại; Dám sống niềm vui thực thi ý Chúa ngay giữa cảnh thế sự thăng trầm này.
Bài đọc 1 trích từ Sách Khôn Ngoan, tác phẩm được viết cuối cùng của bộ Cựu Ước. Tác giả là một người Do Thái đạo đức, am hiểu Kinh Thánh lẫn nền văn hóa hi lạp, ngụ cư tại thành phố hoa lệ Alerandria bên Ai Cập. Đối tượng chính ông nhắm đến là cộng đoàn Do Thái kiều sinh sống khá đông trong thành phố này. Họ đang bị nền văn minh hiện đại lôi cuốn, có nguy cơ quên lãng Luật lệ tổ tiên, bất trung với Thiên Chúa. Dấu chỉ rõ nét là họ không còn đọc hiểu được tiếng Hipri nữa, cho nên tác phẩm nay phải được viết bằng tiếng hi lạp. Tác giả muốn bảo vệ đức tin và truyền thống cha ông của dân tộc ngay tại quê người.
Để làm được việc đó, tác giả đã đọc lại hai biến cố nền tảng trong quá khứ đã tạo nên dân do thái:
* Trong câu 6, tác giả kín đáo nhắc nhở lại việc Thiên Chúa báo trước cho Tổ phụ Abraham biết rằng hậu duệ của ông sẽ phải trải qua một giai đoạn nô lệ ở Ai cập, nhưng Chúa cũng hứa là ra tay giải cứu họ (x St 15, 13 – 14) … Và đứng như thế, dân do thái đã phải nô lệ Ai Cập hơn 400 năm và có nguy cơ tuyệt chủng (x Xh 1, 1 – 22). * Qua câu 7, tác giả đề cập đến việc Thiên Chúa ra tay giải cứu: Thiên Chúa tiêu diệt kẻ thù, giáng án phạt xuống đối phương, làm cho dân Chúa được rạng rỡ … (x. Kn 18, 7b – 8).
Phần dân Chúa, họ tin vào lời Chúa, họ trông đợi đêm ấy ( 18, 7a) và nhất là với lòng tin cậy, phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa, họ đã tuân lệnh Chúa: can đảm cử hành nghi lễ Vượt Qua, họ đã “âm thầm dâng lễ tế trong nhà” ( 18, 9b), ngay trong đât Ai Cập, bất chấp lệnh cấm đi tế lễ cho Chúa (x. Xh 5, 1 -2) và sự áp bức ngày càng nặng của Pharaô đè nặng trên dân (x. Xh 5, 6 -14). Dân đã sống thân phận con người tự do ngay trong đất nô lệ diệt chủng: họ cử hành lễ Vượt Qua như một giao ước, họ cam kết tuân giữ Luật Chúa, đồng tâm nhất trí, phúc họa cùng chia và ca vang lời ca tán dương Thiên Chúa (x. Kn 18, 9).
Đó chính là bài học mà bài đọc 1 gởi cho chúng ta là những người không ở trong đất Ai Cập; Nhưng chúng ta đang ở trong một thê giới chạy theo lạc thú lãng quên Thiên Chúa: Hãy trung tín liên kết với nhau, giúp nhau tuân giữ Luật Chúa để được hưởng Đất Hứa vĩnh cửu là Nước Trời.
Trong bài đọc Tin Mừng, điều mà Thiên Chúa hứa ban là NƯỚC TRỜI. Nước Trời Chúa hứa không là vùng đất phải đi tranh dành với kẻ khác, mà là gia sản Cha đã dành sẵn cho đoàn con (x. Lc 12, 32 so với Mt 25, 34). Và để hưởng được vĩnh phúc tương lai ấy, thì hãy bắt chước các tổ phụ lành thánh, dám thực thi Lời Chúa, liên kết với nhau, sống trước, cử hành trước niềm vui được làm Dân Chúa ngay trong cõi thế này. Vài việc làm cụ thể mà Tin Mừng hôm nay ân cần nhắc nhở chúng ta là:
1. Ý thức cuộc sống chóng qua nhiều khổ lụy này không phải là quê hương vĩnh cửu, do đó hãy tích lũy kho tàng trên trời bằng cách bán hết tài sản đời này rồi đem bố thí (12, 33 -34).
2. Hoàn thành ngay trong phút giây hiện tại mọi sứ vụ được Chúa trao: hãy luôn sẵn sàng ở tư thế CHỜ CHỦ VỀ, vì chủ về BẤT CHỢT, để đáp trả kịp thời mọi điều Chủ muốn (12, 35 – 40). Và khi Chủ vắng hãy hoàn tất cách trung tín mọi bổn phận đã được trao (12, 41 – 44).
3. Cuối xùng là một lời cảnh giác dành cho các môn đệ, nhất là cho hàng lãnh đạo: được ban cho nhiều (hay ít) thì sẽ bị đòi nhiều (ít) (12, 48b).
Xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho mọi tín hữu biết đọc lại lịch sử cứu độ, nhận ra trong đó đường lối, cách thức hành động của Thiên Chúa và can đảm tin tưởng phó thác cho Chúa: sống ngay trong hiện tại niềm vui, phúc lộc cánh chung; nếm cảm trước hồng ân Nước Trời ngay giữa trần thế còn lắm gian truân này. Chính nhờ niềm tin cậy, phó thác này mà những cực nhọc của lộ trình hồi hương vẫn là niềm vui vì biết chắc đích tới là GIA ĐÌNH ĐOÀN TỤ.
SUY NIỆM MÙA THƯỜNG NIÊN XIX C
Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là có phúc cho họ (Lc 12, 35 – 37 a).
Lời Chúa của Chúa Nhật XIX C Mùa Thường Niên đề cập đến một chủ đề quen thuộc trong Mùa Vọng: CHÚA ĐẾN! Nhưng ở đây không chú tâm đến một đặc điểm của Mùa Vọng là “tính bất ngờ” của việc Chúa đến, nhưng lại nhấn mạnh đến chi tiết: Con người biết rõ CHẮC CHẮN là Chúa sẽ đến. “Chắc chắn là Chúa sẽ đến” đó là chủ đề hôm nay.
Từ đó bài học liên hệ được gợi lên cho con người đang trong tình trạng chờ mong là: phải tỉnh thức và ở trong tình trạng sẵn sàng đón Chúa để khi Chúa đến thấy tôi tớ nào còn đang tỉnh thức thì sẽ được Chúa ban thưởng những ân phúc bội hậu.
Lời Chúa hôm nay cũng đề cập đến tính lưỡng diện của việc Chúa đến: Chúa đến sẽ là phần thưởng, là niềm vui cho những tôi tớ tỉnh thức, trung thành với những việc Chủ giao; Trái lại, đối với những kẻ thù nghịch, bất tuân, chống đối chủ thì đó sẽ là ngày án phạt.
Bài đọc 1 trích từ Sách Khôn Ngoan là một suy niệm về một biến cố quá khứ, Chúa đã đến giải cứu dân Chúa khỏi ách Ai Cập vào thời Xuất Hành do Mô sê lãnh đạo, biến cố được coi là khai sinh dân Do Thái.
Đêm Chúa đến là một đêm không ngủ đối với người Do Thái vì thời điểm Chúa đến can thiệp đã được Thiên Chúa báo trước; và dân Chúa cũng đã chuẩn bị sẵn sàng mọi sự theo lệnh truyền Chúa đã chỉ dẫn trước. Sự tuân phục đó chính là dấu chỉ của lòng tin của dân đối với Chúa. Đó là yếu tố thiết yếu Chúa chờ đợi nơi dân, làm cho mảnh đất tâm hồn của dân nên tươi tốt, đón nhận hạt mầm Lời Chúa, bám rễ, lớn lên và sinh hoa kết quả dồi dào.
Bài đọc 1 ở đây, nhấn mạnh đến vài yếu tố đặc biệt của lần Chúa đến này:
- Câu 18, 6: các bậc “cha ông”, các tổ phụ (St 15, 13 – 14) đã biết trước cuộc giải thoát này và đã tin vào đó vì Thiên Chúa trung tín.
- 18, 7 – 8: là đêm mang tính lưỡng diện: vừa là đem giải cứu đối với người Do Thái, vừa là đêm trừng phạt đối với người Ai Cập bóc lột.
- 18, 9: gọi là bữa ăn với con chiên vượt qua được cử hành ngay tại từng tư gia của cộng đoàn Do Thái. Đây là bữa ăn ký giao ước trước mặt Chúa với nội dung là toàn dân một lòng một trí nên một với nhau: “Họ đồng tâm nhất trí với nhau “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia”.
Trước khi ban Giao Ước Sinai, Thiên Chúa đòi dân phải là một cộng đoàn hiệp nhất trước đã.
Bài đọc Tin Mừng cũng nói đến vấn đề CHÚA ĐẾN.Tuy nhiên Tin Mừng nhắm đến tính cách bất ngờ của việc Chúa đến. Do đó phần các tôi tớ là phải luôn ở tư thế sẵn sàng mở cửa đón Chủ khi Chủ về tới. Từ đó cũng đưa tới tính lưỡng diện của việc Chủ về tới: ân thưởng các tôi tớ trung thành và phạt các kẻ không làm theo ý Chủ. Tuy nhiên yếu tố dựa vào để thưởng phạt không phải là việc đón hay không đón Chủ đúng ngay lúc chủ về mà là xét dựa trên những gì các tôi tớ đã làm trong nhà Chủ suốt thời gian Chủ vắng mặt (Lc 12, 42 – 46). Vậy tiêu chuẩn xét xử là việc phục vụ cộng đoàn dân Chúa theo ý Chúa.
BÀI ĐỌC I: Kn 18, 6 – 9
Dẫn nhập: xem bài đọc I: Kn 2, 12. 17 – 20 Chúa Nhật XXV B
Nội dung Sách Khôn Ngoan được chia làm 3 phần rõ rệt:
1. Kn 1 -5: trình bày vai trò của Đức Khôn Ngoan trong vận mệnh của con người và so sánh số phận của những người công chính với những kẻ vô đạo ở đời này và sau khi chết.
2. Kn 6 – 9: trình bày nguồn gốc và bản chất của Đức Khôn Ngoan cũng như cách thức để chiếm hữu được Đức Khôn Ngoan.
3. Kn 10 – 19: tán dương hoạt động của Đức Khôn Ngoan và của Thiên Chúa trong lịch sử của dân được tuyển chọn, đáng chú ý nhất là cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập (x. CGKPV “Sách Kn”. Dẫn nhập).
Bài đọc 1 là trích đoạn từ phần thứ ba này, nói đến biến cố Xuất Hành: Thiên Chúa can thiệp cứu dân khỏi ách Ai Cập. Việc can thiệp này không phải là một biến cố đột xuất nhất thời, nhưng là ý định từ xa xưa của Thiên Chúa đã được báo trước cho các tổ phụ; Rồi đến thời đến buổi, Chúa ra tay hành động; Và để lại cho các thế hệ tương lai bài học yêu thương hiệp nhất: “Họ đồng tâm nhất trí … là trong dân thánh có phúc cùng hưởng có họa cùng chia. Đó là luật của Thiên Chúa. Đấng Giải Phóng, Đấng đã ban tự do cho dân (Kn 18, 9).
Như vậy qua biến cố lịch sử cứu dân khỏi ách Ai Cập, Chúa gởi đến cho dân và thế giới một sứ điệp vĩnh cửu: - Hãy tin vào Lời Chúa và kiên trì cậy trông, phó thác cho Người; - Phần dân, cho dù tình huống nào đi nữa thì hãy luôn hiệp nhất, yêu thương, sớt chia hạnh phúc. Và Luật đó là mối dây hiệp nhất dân.
Khi suy niệm biến cố Xuất Hành lịch sử, tác giả sách Khôn Ngoan nghiệm ra được ý đính đời đời của Thiên Chúa và trình bày làm ba nhịp bao trùm toàn bộ dòng lịch sử cứu độ: từ lúc gọi Abraham (Chúa đổi tên) cho tới lúc “hiện tại” là thời điểm tác giả viết Sách Khôn Ngoan.
1. Đêm ấy đã được báo trước cho CHA ÔNG CHÚNG CON (c 6)
Câu 6 nhắc tới biến cố Chúa sẽ cứu dân vào thời điểm bắt đầu lịch sử cứu độ: Chúa vừa gọi Abram lên đường tới đất Chúa sẽ chỉ cho; lúc đó ông đang là một ông già vô sinh tuyệt vọng không còn gì để bám víu (x. St 15, 3), nhưng ông vẫn lóe lên niềm hi vọng vì ông tin vào Lời Chúa hứa (St 15.5; Rm 4, 18); Do đó ông được Chúa coi là công chính (St 15, 6) và báo trước cho ông biết số phận của dân tộc của ông dù lúc đó ông chưa có con, chưa được đổi tên (St 15, 13 – 14). Và từng bước một, Thiên Chúa hoàn tất lời hứa cho Abraham. Đáp lại Abraham đã tin tưởng phó thác vào Chúa đến cùng dù cho có những lúc thực tế đưa ông vào những hoàn cảnh bế tắc, không sao giải quyết được: Chúa đòi hiến tế Isaac. Hóa ra những thử thách ấy lại là những nấc thang cuối cùng Chúa mời Abraham bước lên để trở nên tổ phụ dân Chúa, chiếm hữu được đất đai, trở nên nguồn phúc cho bản thân ông, dân tộc ông và mọi người như lời Thiên Chúa hứa lúc gọi ông (St 12, 1 - 3); St 22, 16 – 18).
2. Dân Chúa đã trông đợi ĐÊM ẤY….(c.7)
Từ câu 7 – 9ab nhắc lại những gì Thiên Chúa thực hiện cho dân vào thời xuất hành với vị thủ lãnh là Môsê:
* “Đêm ấy” được báo trước:
Dân Chúa được cho biết trước Thiên Chúa sẽ can thiệp cứu dân và dân đã thức cả đêm chờ giây phút ấy. Và toàn dân đã được cho biết trước và biết rõ những gì Thiên Chúa sẽ can thiệp vào đêm ấy. (Xh 11, 4 – 6)
* Tính lưỡng diện của đêm ấy cũng được công bố rõ ràng cho toàn dân (Xh 11, 6 – 7) Và dân đã chứng kiến (Kn 18, 7 – 8)
Tất cả những gì Thiên Chúa truyền cho dân họ đã tin tưởng thi hành. Họ đã công nhiên cử hành lễ Vượt Qua của những con người tự do ngay tại đất nô lệ Ai Cập như đã được Thiên Chúa truyền. (Xh 12, 1 – 27. 28. 35 – 36)
* C.9 gợi lại Xh 12, 21 – 22 dân đã sát tế chiên và cử hành Lễ Vượt Qua ngay tại tư gia và vết máu của chiên Lễ Vượt Qua được bôi trên những ngưỡng cửa của dân đã là dấu chỉ phân biệt “người chính trực” với “kẻ địch thù”.
Như vậy trong Kinh Thánh, “người công chính” là người dám tin tưởng, phó thác trọn vẹn vào Thiên Chúa, tin vào tính hiện thực chắc chắn của lời hứa của Chúa cho dù hoàn cảnh trước mắt có là sao đi nữa (x. St 15, 6; Xh 12, 28. 35.36). Thiên Chúa đã giải phóng tinh thần của dân Chúa khỏi não trạng nô lệ trước khi giải cứu thân xác khỏi ách Ai Cập.
3. Ứng dụng vào hiện tại (c.9c.d)
* Tình trạng người Do Thái đang sống tại thành phố Alexandria tại Ai Cập cũng có những nét tương tự như tình trạng dân Do Thái thời Xuất Hành của Môsê. Họ không bị bách hại về mặt vật chất, nhưng về mặt tinh thần và tôn giáo của họ đang bị đe dọa. Thật vậy:
“những người Do Thái…đang sống giữa một thành phố văn minh (thành phố lớn thứ hai của đế quốc La Mã, chỉ sau thành phố Rôma). Vẻ hào nhoáng của nếp sống văn minh Alexandria đã khiến cho lòng trung thành với Thiên Chúa và Lề Luật của cha ông bị lung lay: những trường phái triết học có tiếng, các khoa học phát triển, các tôn giáo thần bí, khoa thiên văn, khoa học bí truyền mời mọc, và có thể cả những việc thờ cúng dân gian cũng lôi cuốn nữa. (CGKPV, “Các Sách Giáo Huấn” 1997 trang 536).
Tác giả muốn nhắc dân phải giữ vững niềm tin tôn giáo và căn tính dân tộc của mình: Sách muốn chứng minh rằng sự khôn ngoan đến từ Thiên Chúa vượt xa mọi thứ khôn ngoan, hào nhoáng nhân loại. Dấu chỉ đáng lo là dân Do Thái ở Alexandria không còn thông thạo tiếng Do Thái nên tác phẩm được viết bằng tiếng Hy Lạp.
*Bài học cho hiện tại (c. 9 cd..)
Đối với dân Do Thái tại Alexandria vào thời điểm sách Kn được soạn thảo, thì cái ách nô lệ đang treo lơ lửng trên đầu họ chính là cơn cám dỗ của nền văn minh hào nhoáng của lối sống dân ngoại tại thành phố đó. Các biến cố được nói trong các câu 6-8.9ab là những yếu tố báo trước Thiên Chúa gửi tới nhắc nhở họ.
Vậy bài học họ phải rút ra là: chắc chắn Chúa sẽ đến để khôi phục lại uy quyền của Chúa, của Lề Luật trên dân Chúa. Lần đến này mang tính lưỡng diện làm lộ rõ mặt ai trung thành ai gian dối.
Dấu hiệu để nhận ra tôi tớ trung thành là:
- âm thầm, kiên trì giữ luật Chúa (dâng lễ tế trong nhà)
- duy tình yêu, sự hiệp nhất trong dân: cùng chung số mệnh.
- Tại Alexandria không có đền thờ để dâng lễ vật, thì dân vẫn tôn thờ Chúa, cử hành phụng vụ tại tư gia, họp hội đường, hát Thánh Vịnh.
TÓM KẾT: qua việc suy gẫm những lần Chúa đến đúng thời đúng chỗ để cứu dân và hướng dẫn lịch sử theo ý Chúa, tác giả nhắc dân rằng Thiên Chúa là chủ dòng lịch sử, Người điều khiển mọi biến cố theo cách thức của Người để hoàn tất ơn cứu độ. Vậy đối với kẻ tin vào Chúa thì điều quan trọng là phải sống hiện tại như thế nào để một khi Chúa đến thì đó là niềm vui là hạnh phúc cho chúng ta. Điều cụ thể, sách Khôn ngoan đề nghị:
- kiên trì trung thành sống Giao Ước ngay nơi đang sống
- cùng chung số phận một lòng một ý hiệp nhất yêu thương
- hiệp lòng ca ngượi Chúa bằng Lời Chúa tức Thánh Vịnh (bài ca do cha ông truyền lại)
TIN MỪNG: Lc 12, 32 – 48
Đức GiêSu đang trên đường lên Giêrusalem để mở cửa Nước Trời cho nhân loại (Lc 9, 51). Nhiều người muốn theo Người, nhưng không hiểu được đường lối của Người; Cần phải chỉnh sửa (bài đọc Tin Mừng XIII C); Và mục đích theo Đức GiêSu không để tìm những thành công mà là được ghi tên trên trời, trở thành công dân Nước Trời (Mùa Thường Niên 14 C). Từ đó có người thắc mắc: phải làm gì để được thừa kế Nước Trời? Các Chúa Nhật trước đã cho chúng ta một số lời đáp phong phú, đa dạng, cụ thể:
- Phải mến Chúa yêu người và được minh họa cụ thể bằng dụ ngôn “người Samari tanô nhân hậu” (Chúa Nhật 15 C)
- Phải hoan hỉ tiếp đón Chúa, ưu tiên cho việc lắng nghe Lời Chúa ( 16 C)
- Phải cầu nguyện với những đặc nét sau: trong tư cách là con với Thiên Chúa; kiên trì và tin tưởng (17 C).
- Đừng phó trao vận mệnh đời mình vào tài sản thế trần. Tích lũy của cải không bảo đảm được mạng sống. Hãy lo tích lũy làm giàu trước mặt Thiên Chúa ( 18 C)
Hôm nay, Tin Mừng nhắc lại câu hỏi nền “phải làm gì để được thừa hưởng Nước Trời?” bằng một lời củng cố đức tin các môn đệ: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em”. Phần môn đệ, để đón nhận Nước Trời, cần chuẩn bị tấm lòng bằng cách “bán tài sản đang có mà bố thí; Hãy tích lũy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không hề hao hụt ở trên trời … Vì kho tàng anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó” (Lc 12, 32 – 34). Trích đoạn trên là câu đáp tổng hợp tuyệt vời những gì Đức GiêSu đã làm từ lúc khởi sự lên Giêrsalem để cứu độ và đáp lại câu hỏi nên phải làm gì?
Phần tiếp theo của bài đọc Tin Mừng, nối kết với bài đọc 1 qua chủ đề chính: CHÚA ĐẾN! Chắc chắn Chúa đến để giải cứu, ân thưởng những ai tín trung và xét xử những ai bất tín. Như vậy Nước Trời đã được chủ dọn sẵn rồi và dành cho “đoàn chiên nhỏ bé”. Vấn đề không là làm gì để chiếm đoạt mà làm gì để đón nhận. Công việc chính yếu là chia sẻ ân huệ của Chủ cho mọi người đúng nơi đúng lúc theo ý Chủ (Lc 12, 37. 42).
Dẫn nhập:
Có thể nói câu 12, 32 – 34 là lời đáp tổng hợp của Đức GiêSu cho câu hỏi “tôi phải LÀM GÌ để được THỪA KẾ sự sống đời đời?” (10, 25). Câu hỏi đậm nét vụ luật, người thông luật tưởng rằng có thể MUA được Nước Trời bằng việc làm công đức của cá nhân anh ta. Sau nhiều giải thích và minh họa từ 10, 26 – 12, 31, giờ đây Đức GiêSu tổng kết nơi 12, 32 – 34:
- Đã là thừa kế thì không tính toán bằng công nghiệp, “phải làm gì”, được
- Đó là ơn huệ Cha (phải đi vào tương quan nào thì mới thừa kế được) của anh em đã vui lòng ban cho anh em.
- Vậy vấn đề không phải là “làm gì” mà là đáp lời Cha, đi vào một tương quan mới: thay vì tích lũy tài sản trần thế, thì hãy trút bỏ đi, đừng dính bén nữa; trái lại hãy sắm sẵn một KHO TÀNG … ở trên trời bằng cách bán tất cả mọi thứ đang có rồi bố thí rồi theo Người; Sau này khi sắp vào thành Giêrusalem, Người cũng lập lại mối tương quan đó (x. Lc 18, 22); Thánh Phaolô cũng cảm nghiệm được mối tương quan mới ấy nơi bản thân khi nói ông coi mọi sự là cỏ rác trước mối lợi tuyệt vời là biết Đức GiêSu (x. Pl 3, 8).
Phần tiếp theo là đi vào chủ đề chính của Chúa Nhật hôm nay: CHỜ CHỦ VỀ, qua ba dụ ngôn, với mỗi dụ ngôn có vài nét độc đáo.
1. “Đợi chủ đi ăn cưới về” (12, 35 – 38)
* Lý do chủ vắng nhà là “đi ăn cưới”. Như vậy thời gian chủ vắng nhà sẽ không lâu và chắc chắn sẽ về trong nội nhật, cùng lắm đến qua đêm. Yếu tố bất ngờ không là trọng tâm của dụ ngôn, Vì
* Dụ ngôn này không nói đến tính lưỡng diện của việc chủ về: chỉ đề cập đến việc các tôi tớ ra đón chủ và được chủ khen thưởng, phục vụ.
* Y phục gọn gàng, thắt lưng, đèn dầu cháy sáng cho thấy họ đang ở tư thế sẵn sàng làm việc. Hình ảnh ở câu 35 gợi dụ ngôn mười cô trinh nữ cầm đèn sáng đi đón lang quân; Cũng gợi lại hình ảnh dân Chúa thời Xuất Hành (bài đọc 1) thức suốt đêm náo nức chờ Chúa đến, chứ không phải là bị ép buộc phải mất ngủ thức giấc đợi chờ. Như vậy c. 35 cho thấy tất cả gia nhân đều sẵn sàng đi rước chủ về: y phục chỉnh tề, đèn đuốc sáng rực.
* Rồi một chi tiết lạ nữa là sau đó chủ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn và phục vụ từng người. Chi tiết lạ lùng nhưng gợi lại hình ảnh Đức GiêSu trong bữa Tiệc Ly đã thắt lưng rửa chân phục vụ đoàn môn đệ (x Ga 13, 6).
Dụ ngôn này chỉ nói các tôi tớ trong y phục chỉnh tề, đèn đuốc chong sáng ra đón rước Chủ và được Chủ đãi tiệc. Đối tượng được hưởng ân lộc này là “đoàn chiên nhỏ bé”. Tất cả các chi tiết phối hợp lại cho phép chúng ta nghĩ đến việc Chúa đến với chúng ta (đoàn chiên nhỏ bé, và cũng là tôi tớ) trong Bàn Tiệc Thánh Thể.
Vậy đáp trả của chúng ta phải là y phục chỉnh tề, tay cầm đèn sáng ra đón Chúa và dự bàn tiệc Chúa ban cho. Đừng để vuột đi mất hồng ân lớn lao này.
2. Chủ đến như tên trộn đêm (12, 39 – 40)
Thật táo bạo, Luca dám ví sánh Thiên Chúa với tên trộm đêm. Thực ra bản văn so sánh VIỆC ĐẾN của Thiên Chúa với VIỆC ĐẾN của tên trộm; “2 VIỆC ĐẾN” đó giống nhau ở chỗ là “người được viếng thăm” không hề biết lúc nào sự việc ấy xảy ra. Người được viếng thăm (chủ nhà và cũng là chúng ta) hoàn toàn vô tri về việc VIẾNG THĂM NHÀ TA của các vị khách không mời. Từ đó, bài dụ ngôn này được nói lên là để nhắc các tín hữu hai điều:
- Việc Chúa đến là điều chắc chắn có và bất ngờ.
- Vậy phải tỉnh thức và sẵn sàng, nhưng không nói rõ phải sẵn sàng, phải tỉnh thức như thế nào.
Vậy dụ ngôn này là một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở rằng con người đừng quá đam mê, bị lôi cuốn bởi cuộc sống hiện tại mà quên mất đi một thực tại khác đó là cuộc sống đời sau như ông phú hộ trong Lc 12, 16 – 21.
3. Dụ ngôn về người quản lý: 12, 42 – 48
Dụ ngôn thứ ba này là lời đáp của Đức GiêSu cho câu hỏi của Phêrô: “Lạy Chúa, Ngài nói dụ ngôn này (hai dụ ngôn trên được coi như là một) cho chúng con hay cho tất cả mọi người?”. Câu hỏi này chỉ riêng Luca thuật lại. Nó được dùng làm yếu tố chuyển mạch từ đối tượng được khuyên bảo là tất cả môn đệ (các câu 35 – 40) chuyển sang đối tượng khác là những người có trách nhiệm coi sóc anh em mình, như các vị quản lý (cc. 42 – 48). (Chú giải PA Chúa Nhật C Mùa Thường Niên trang 266). Vậy dụ ngôn này nhắm vào các thủ lãnh. Anh này được Chủ chọn đặt lên làm quản gia cho Chủ, anh có quyền nhưng cũng kèm theo đó là trách nhiệm “coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ, đúng lúc …”. Sau đó (hàm ý) Chủ đi xa không rõ sẽ trở về lúc nào.
Về chi tiết Chủ đi xa rồi trở về, dụ ngôn ba này lấy lại hai ý của hai dụ ngôn trước: chắc chắn Chủ sẽ về (dụ ngôn 1) và thời điểm cách thức là bất ngờ (dụ ngôn 2).
Anh quản gia này được đặt trước một tình huống lưỡng diện:
- Hoặc ứng xử như một “quản gia trung tín, khôn ngoan” làm theo ý Chủ và kết quả khi Chủ về là sẽ đặt anh làm tổng quản tài sản Chủ.
- Hoặc ứng xử lưu manh, cường hào, tiếm quyền Chủ, coi như Chủ không hề có mặt… hậu quả, khi Chủ về hắn sẽ bị án phạt của phường thất tín.
Vậy dụ ngôn thứ ba nhắm vào các thủ lãnh, các vị lãnh đạo giáo đoàn. Họ được Chúa chọn, họ có quyền trên dân, nhưng là để phục vụ dân Chúa, là người đại diện Chúa để hướng dẫn dân Chúa. Số phận, vận mạng của họ tùy thuộc vào việc họ hoàn tất sứ mạng đã được trao như thế nào trong hiện tại.
Tóm kết: Chủ đề Lời Chúa hôm nay là CHÚA ĐẾN ! Đó là điều chắc chắn. Chúa đến để ổn định lại mọi sự, đưa công trình của Người đến chỗ hoàn chỉnh, mọi vật về lại đúng vị trí của mình theo như Ý Chúa. Mặc dù bóng đêm đang còn bao phủ thế giới hiện tại, nhưng việc CHÚA CHẮC CHẮN ĐẾN là nguồn hi vọng và sức sống cho dân Chúa. Vậy sứ điệp cho dân Chúa là hãy can đảm sống theo ý Chúa từng phút giây hiện tại cho dù thực tế trước mắt là gì đi nữa: tôi là tôi tớ (dụ ngôn 1), tôi là chủ nhà (dụ ngôn 2), là quản gia lãnh đạo …(dụ ngôn 3) thì không ai và không thứ gì ra khỏi bàn tay quan phòng của Thiên Chúa khi Người đến.
Số phận, vận mệnh chung cuộc của mỗi người nằm trong tay mình.
Pet. Đình Long, FSC