Những hình ảnh tiên trưng hé mở dần mầu nhiệm Thánh Thể - Lễ Mình Máu Chúa Kitô

18/06/2022lasanvnSuy niệm Chúa Nhật
Hôm nay Giáo Hội mừng trọng thể lễ Mình Máu Thánh Đức Giêsu. Lễ này được Giáo Hội thiết lập khá muộn, vào thế kỷ XIII, không nhằm mục đích tưởng niệm việc Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly (điểm nhấn là lời truyền phép, nhờ Chúa Thánh Thần tác động, làm cho bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Biến cố này được chính Đức Giêsu thiết lập vào ngày thứ năm thánh trước khi Người chịu khổ hình) mà nhằm củng cố đức tin và cổ võ lòng yêu mến của các tín hữu đối với “Hoa Trái của bí tích Thánh Thể” là “Tấm Bánh đã được truyền phép”: trong Tấm Bánh đó, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô… hiện diện một cách đích thực, thật sự và theo bản thể” (x. GLHTCG 1374).

 

LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ 
St 14,18-20; Lc 9,11b-17
Chủ đề: những hình ảnh tiên trưng hé mở dần mầu nhiệm Thánh Thể.


* St 14,18a.19a: ông Menkixêđê, vua thành Salem mang bánh và rượu ra… chúc phúc cho ông Apram.

* Lc 9,16: Đức Giêsu cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông.

Hôm nay Giáo Hội mừng trọng thể lễ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ. Với quyền năng thần linh của một Thiên Chúa, ngang qua những dấu chỉ của bí tích, Đức Giêsu đã thực sự vĩnh viễn ở với loài người cho đến tận thế, nhờ tình yêu chóp đỉnh của Đức Giêsu; Đó là cách Người biểu lộ tình yêu đối với những kẻ thuộc về mình vẫn còn đang ở lại thế gian và Người đã yêu họ đến cùng (x. Ga 13,1). Thật vậy, giờ hoàn tất sứ mạng đã đến! Đức Giêsu phải về cùng Chúa Cha, nhưng Người vẫn muốn - dù vắng mặt, dù không còn hiện diện với xác phàm nhân - “Thầy ở đâu thì anh em cũng ở đó” (x. Ga 14,3). Việc Thầy trò ở chung với nhau không chỉ là chuyện tinh thần, chuyện tương lai phải chờ đến tận thế, mà là NGAY TRONG HIỆN TẠI. Phương thế mà “Tình yêu đến cùng” đã sáng tạo ra để nên một với đoàn môn đệ ngay trong hiện tại là THÁNH THỂ, là biến chính mình thành lương thực nuôi tín hữu. Với Thánh Thể, Đức Giêsu không chỉ ở gần bên, ở trong mà còn là NÊN MỘT. Chỉ có ĂN VÀO thì lương thực và người ăn mới thật sự nên một: cái mình ăn vào, sẽ được tiêu hóa và biến thành thịt máu của chính mình. Với bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu thực sự NÊN MỘT với những ai “ăn thịt và uống máu Người”. Nhờ đó, những yếu tố thần linh trong Thịt Máu Người dần dần thấm nhập vào xương thịt máu… của nhân tính chúng ta, từng chút biến đổi chúng ta, “dọn chỗ trước trong Nhà Cha” (x. Ga 14,2), chuẩn bị cho ngày nhân tính của chúng ta được hoàn toàn thông hiệp với thiên tính của Chúa.

Phương tiện, Thiên Chúa dùng - và dọn đường trước từ xa trong dòng lịch sử - để thực hiện bí tích Tình Yêu này là một yếu tố thiết thân với sự sống con người là BỮA ĂN. Đức Giêsu đã biến bữa ăn thường nhật của kiếp người trở thành phương thức lập GIAO ƯỚC vĩnh cửu thông ban sự sống thần linh, đời đời cho nhân loại: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh… và nói “đây là Mình Thầy…”; rồi cầm lấy chén rượu và nói: “chén này là GIAO ƯỚC MỚI, lập bằng Máu Thầy…” (bài đọc 2). Và Thiên Chúa đã chuẩn bị cho giây phút ứa tràn tình yêu này, ngay từ những giây phút khởi đầu của dòng lịch sử cứu độ:

Bài đọc 1, sách Sáng Thế thuật lại cuộc gặp gỡ quan phòng giữa Abram và Melkixêđê, được mô tả với những nét tiên trưng báo trước mầu nhiệm Thánh Thể mà sau này Đức Giêsu sẽ thiết lập: Sau khi đánh bại liên minh các vua xâm lăng gốc Lưỡng Hà (x. St 14,1) giải cứu gia đình ông Lót, Abram quay về lại Mambrê ở Hêbron (St 13,8). Dọc đường, Melkixêđê, vua thành Salem và cũng là tư tế của Thiên Chúa tối cao đã ra đón mừng và dâng đãi một bữa ăn gồm BÁNH và RƯỢU để giúp Abram hồi phục sức lực sau cuộc chiến; Đồng THỜI Melkixêđê chúc lành cho Abram nhân danh Thiên Chúa tối cao. Đáp lại Abram dâng biếu cho Melkixêđê một phần mười chiến lợi phẩm để tỏ tình liên đới, chấp nhận bữa ăn, sự bảo trợ của vị vua thành Salem.

Các yếu tố: bánh, rượu, bữa ăn, lời chúc phúc, dâng tặng chiến lợi phẩm…, tất cả được làm nhân danh và trước mặt Thiên Chúa tối cao, gợi nhớ đến một nghi thức giao ước (x. St 31,44-46; Gs 9,12-15). Đến thời Tân Ước, thơ Do Thái 5,6 và 7,3 coi Melkisêđê là hình ảnh báo trước Đức Giêsu tư tế. Chính Người lập một Giao Ước mới, vĩnh cửu với hậu duệ của Abram, nuôi dưỡng, bảo trợ họ; Và chất thể Đức Giêsu dùng để lập Giao Ước mới cũng là BÁNH và RƯỢU.

Theo thánh giáo phụ Cyprien, các thế hệ kitô hữu tiên khởi đã nối kết việc Melkixêđê dâng đãi bánh rượu cho Abram với việc Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể (Paroles sur le chemin C 1979 trang 137) (xem thêm Sách lễ Roma, Nghi thức Thánh Lễ, số 93)

Còn Tin Mừng thuật lại phép lạ Đức Giê su hóa năm cái bánh ra nhiều đủ nuôi ăn năm ngàn người. Bữa ăn này là do Đức Giêsu thiết đãi đám dân đang đi theo lắng nghe lời Người. Phép lạ được làm trong nơi hoang vắng gợi lại giai đoạn Thiên Chúa nuôi dân bằng Manna trong sa mạc. Nhờ bánh bởi trời đó, dân Chúa hoàn tất được cuộc lữ hành cam go, vượt qua hoang địa cằn khô về Đất Hứa.

“Bữa ăn” còn gợi lại lời hứa tiệc cánh chung mà Thiên Chúa hứa ban cho dân vào thời Mêsia (x. Gr 9,4-5; Is 25,6…). Phép lạ nhân bánh kín đáo mặc khải Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia, là Môsê mới đến khai mở thời cánh chung của lịch sử cứu độ. Qua phép lạ này, Đức Giêsu đã dọn đường cho một phép lạ khác vĩ đại, giá trị hơn mà Người sẽ thực hiện trong bữa Tiệc Ly cho toàn thể nhân loại, mọi thời: đó là bí tích Thánh Thể. Công thức mà Đức Giêsu dùng trong phép lạ nhân bánh này chính là công thức sẽ được Người dùng để lập bí tích Thánh Thể. (So Lc 9,16 với 1Cr 11,23.24).

Đáp lại tình yêu Chúa đã ban Mình Máu Thánh làm thần lương nuôi dưỡng chúng ta, mỗi tín hữu hãy năng đến với bí tích Thánh Thể cách xứng đáng, hầu xác phàm bất xứng của ta được biến đổi nên Đền Thờ của Chúa, nên phương thế hữu hình để nhân loại mọi thời gặp được Đức Giêsu, đến với Ba Ngôi mà được ơn cứu độ.



SUY NIỆM LỄ MÌNH MÁU CHÚA GIÊSU


Đức Giêsu bảo các môn đệ: “chính anh em hãy cho họ ăn” (c.13a)… Bấy giờ Đức Giêsu cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Mọi người đều ăn và ai nấy được no nê… (cc.16.17a)

Hôm nay Giáo Hội mừng trọng thể lễ Mình Máu Thánh Đức Giêsu. Theo niên lịch phụng vụ hiện hành, lễ này được cử hành vào Chúa Nhật thứ hai sau lễ Hiện Xuống. Với lễ Hiện Xuống, niên lịch phụng vụ bước vào Mùa Thường Niên II, sau khi bị gián đoạn bởi Mùa Chay và Mùa Phục Sinh. Lễ này được Giáo Hội thiết lập khá muộn, vào thế kỷ XIII, không nhằm mục đích tưởng niệm việc Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly (điểm nhấn là lời truyền phép, nhờ Chúa Thánh Thần tác động, làm cho bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Biến cố này được chính Đức Giêsu thiết lập vào ngày thứ năm thánh trước khi Người chịu khổ hình) mà nhằm củng cố đức tin và cổ võ lòng yêu mến của các tín hữu đối với “Hoa Trái của bí tích Thánh Thể” là “Tấm Bánh đã được truyền phép”: trong Tấm Bánh đó, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô… hiện diện một cách đích thực, thật sự và theo bản thể” (x. GLHTCG 1374).

Bí tích Thánh Thể được chính Đức Giêsu thiết lập vào Thứ Năm Thánh; Còn “Lễ Mình Máu Thánh” được Giáo Hội lập vào cuối thời Trung Cổ (thế kỷ V đến XV ở Tây Phương). Ban đầu ở Pháp, người ta gọi lễ này với tên là “Lễ - Thiên – Chúa” (la Fête – Dieu) được thiết lập vào một giai đoạn các tín hữu lơ là việc hiệp lễ, rước Mình Thánh Chúa. Lần đầu tiên lễ này được cử hành là vào năm 1246, tại giáo phận Liège (Pháp). Rồi đến 11/8/1264, Đức giáo hoàng Urbanô IV qua tông sắc Transiturus mở rộng việc mừng lễ này cho toàn thế giới. Vào năm 1313, thánh Tôma Aquinô, theo yêu cầu của Đức giáo hoàng đã soạn thảo ra văn bản phụng vụ dành riêng cho lễ này. Đến thế kỷ XIV thì việc cử hành lễ này còn kèm theo một cuộc rước kiệu Thánh Thể long trọng (x. “Théo”, ấn bản 1989 trang 921 c).

Lễ Mình Máu Thánh mời tín hữu suy tư, chiêm ngắm Tình Yêu bao la và đường lối cứu độ diệu kỳ của Thiên Chúa ngang qua những thực tại rất gần gũi, thân thuộc với cuộc sống của con người: lương thực, bánh, ăn, uống… Thiên Chúa đảm nhận tất cả những gì Người đã dựng nên và sử dụng chúng để đưa dự tính yêu thương của Người đến chỗ hoàn tất.

Thật vậy “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8); Vì yêu thương, Chúa đã dựng nên muôn loài và gìn giữ cho mọi loài tồn tại (x. Kn 11,24-26). Và chóp đỉnh của Tình Yêu đó là việc Thiên Chúa đã tặng ban Con Một cho nhân loại dù cho con người bội phản, đáng phạt án chết (Ga 3,16). Nhờ Người Con đó mặc khải, loài người nhận ra dự tính yêu thương của Thiên Chúa: Thiên Chúa muốn kết hợp nên một với chúng ta:

- “ … Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Ga 14,20)

- “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).

Điều mà Đức Giêsu muốn là… tất cả nên một như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng Ta” (Ga 17,21). Việc kết hiệp nên một ấy không chỉ là một viễn cảnh tương lai mà là điều mà phải được thực hiện ngay trong hiện tại của trần thế này. Thật vậy:

Tình Yêu và Quyền Năng Vô Biên của Thiên Chúa đã đặt để sẵn ngay trong công trình sáng tạo, một phương thế tuyệt vời giúp hai hữu thể vốn là khác biệt nhau vẫn có thể thật sự nên một: Đó là việc ĂN UỐNG!

Khi ta đã ăn uống một lương thực nào đó rồi, thì một cách bình thường, ta và lương thực ấy phải nên một: thức ăn ấy trở nên xương thịt, máu tuỷ… của ta, làm ta ngày càng lớn lên thành con người mới tương ứng với những gì mà cơ thể ta đã tiếp nhận vào. 

Mầu nhiệm “nên một” ngang qua việc ăn uống đã được Đức Giêsu đảm nhận biến thành phương thế để nhân loại được nên một với Người, với Cha nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần: Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể thần linh với các phương tiện rất là con người: bánh, rượu, bữa ăn, lời chúc tụng… Quyền năng Thánh Thần đã làm nên cuộc biến đổi kỳ diệu ấy: bánh và rượu phàm trần trở nên lương thực thần linh, Mình Máu Thánh của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, “Ngôi Hai Thiên Chúa làm người”. Với tấm bánh thần linh ấy, Đức Giêsu ban cho môn đệ để họ ĂN và được nên một với Người.

Với quyền năng Thánh Thần, với các bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu đã biến bản thân Người thành lương thực cho nhân loại ăn uống: Hiệp Lễ. Nhờ việc thường xuyên rước lễ cách sốt sắng, con người chúng ta dần được thanh luyện: Thánh Thể sẽ loại dần các yếu tố độc hại ra khỏi con người ta, từng bước một làm cho nhân tính của ta thấm nhuần dần thiên tính giúp chúng ta ngày càng nên giống “nhân tính đã được tôn vinh” của Đức Giêsu.

Phần phụng vụ Lời Chúa: các bài đọc 1 và Tin Mừng hướng về chủ để “bánh” có kèm theo lời chúc tụng Thiên Chúa; Còn trong bài đọc 2, Phaolô nhắc lại đức tin tông truyền về nghi thức cử hành Thánh hể đã được Đức Giêsu làm trong Thứ Năm Thánh.

BÀI ĐỌC I: St 14,18-20

Sau vụ Tháp Babel(St11,1-9), nhân loại bị phân tán, Thiên Chúa bắt đầu lịch sử cứu độ bằng việc chọn Abram, mời ông ra đi theo sự hướng dẫn của Người, kèm theo một lời hứa (St 12,1-3). Ông đã lên đường, bỏ lại quê hương, gia tộc, thần linh, dù ông giàu có và không con; Cùng đi với ông có người cháu tên Lót (St 12,4-5).

Thiên Chúa đã đồng hành, bảo vệ ông. Ông ngày càng giàu có (St 12,6-20). Của cải gia tăng, đàn súc vật phát triển đưa tới việc tranh chấp đồng cỏ giữa các gia nhân Abram và gia nhân ông Lot. Thế là bác cháu phải chia tay. Lot chọn đi về hướng đông về phía thành Xôđôma, vùng này đất đai trù phú nhưng dân cư xấu xa, phạm tội nặng với Chúa (St 13,1-13).

Như một lời cảnh cáo, nhắc nhở, Thiên Chúa đã dùng các vua thù nghịch tiến đánh và chiếm vùng Xôđôma và Gômôra. Ông Lot cư ngụ trong vùng bị chiếm đó nên bị các vua xâm lấn bắt đi làm tù binh. Được tin chẳng lành đó, Abram đã tổ chức gia nhân của mình thành binh đội, rượt theo các vua, đánh úp họ vào ban đêm, chiến thắng và cứu được gia đình Lot (St 13,12-16).

Sau chiến thắng, Abram quay về lại Mambrê nơi Thiên Chúa đã chỉ rõ là sẽ ban ông và hậu duệ (St 13,14-18). Trên đường về, Abram đã được vua thành Salem là Menkixêđê ra đón, dâng lễ vật và chúc phúc cho Abram (St 14,18-20). Đây là trích đoạn được dùng làm bài đọc 1 hôm nay.

1/ Melkixêđê

Nhân vật bí nhiệm này xuất hiện cách đột ngột ở đây và chỉ xuất hiện một lần duy nhất với tư cách là nhân vật lịch sử. St 14 không nói gì về tổ tiên dòng họ cũng như thời gian ông thi hành hai chức vụ vừa là vua, vừa là tư tế. Ông được trình bày như một nhân vật vượt trên không gian và thời gian.

Tên của ông cũng mang nghĩa biểu tượng: theo chiết tự Hipri, tên ông có nghĩa là “Sedeq là vua của tôi”. (gốc từ “sdq” có nghĩa là “công chính cứu độ”: x. DEB “Sédécias”). Vì thế Dt 7,2 hiểu tên ông là “vua công chính”. Rồi ông cũng là vua thành “Salem”, nên ông cũng là “vua hoà bình”.

Ông còn đảm nhận luôn vai trò “Tư tế của Thiên Chúa tối cao”. “Thiên Chúa tối cao = El Elyôn là vị thần cao cả nhất của dân ngoại Phênixi. Nhưng khi dân Do Thái chiếm đất hứa thì họ tuyên xưng Đấng Thần Linh Tối Cao đó là YAVÊ Đấng dựng nên trời đất (St 14,22), Yavê là Thần các thần, là Chúa các chúa (Đnl 10,17).

Vậy với tất cả những nét đặc thù được trình bày trên, bản văn đã báo trước vài nét dung mạo của vị Vua – Tư Tế - Mêsia của Đức Giêsu.

2/ Hành động của Melkixêđê:

- Ông mang “bánh và rượu” ra đón tiếp Abram thắng trận trở về

- ông nài xin Thiên Chúa Tối Cao, là Đấng dựng nên trời đất CHÚC PHÚC cho Abram.

- ông CHÚC TỤNG Thiên Chúa Tối Cao, Đấng đã cho Abram thắng trận.

Ba hành động trên được thực hiện liên tục trong một lúc do bởi Melkixêđê trong tư cách là “vua bình an”; “vua công chính”, và là “tư tế của Thiên Chúa tối cao”. Tất cả gợi lên một bữa ăn kết giao ước mang tính tôn giáo.

Qua trung gian tư tế, ở đây là Melkixêđê, giao ước được ký kết giữa Thiên Chúa Tối Cao với Abram:

- Phần Thiên Chúa sẽ bảo vệ, chữa lành, giúp Abram chiến thắng kẻ thù. 

- Phần Abram, đáp lại, phải dâng một phần mười các chiến lợi phẩm. 

Đó là hình ảnh báo trước Giao Ước Sinai: Chúa là Thiên Chúa của dân và dân sẽ phải tuân giữ giao ước đã ký kết với Chúa (x. Xh 19,5-6); và cũng báo trước Giao Ước vĩnh cửu được thiết lập do bởi Đức Giêsu đích thực là “Vua hòa bình”, “Vua công chính”.

3/ Tạm kết:

Trong các đoạn văn khác của chu kỳ nói về Abraham (St 12-25), Abram được trình bày như  là một tổ tổ phụ dễ tuân phục, an bình, đức tin đơn thuần, vững chắc: là NGƯỜI CÔNG CHÍNH. Nhưng ở St 14, mọi sự trở nên khác hẳn: ông xuất hiện như một chiến binh, như người giải cứu cháu ông là Lót khỏi nô lệ và cứu cả vua dân thành Xôđôma nữa. ( xem Paroles sur le chemin C. PP. 135-136)

Rồi trong St 14 này , trích đoạn 14,18-20 cũng không kết nối chặt chẽ với phần còn lại: thật vậy, St 14,17 nối với St 14,21 thì thật là tuyệt; Đoạn đang khảo sát cắt đứt mạnh văn của St 14. Chủ đề của St 14 là cuộc chiến giữa các vua trong vùng Palestin, Abram như đứng ngoài cuộc nếu không có chuyện ông Lót bị bắt ( St 14,12-13); Trong đó thì St 14,18-20 lại nói về giao ước giữa Abram và Melkixêđê và nếu cắt bỏ trích đoạn này thì ý nghĩa của chương 14 vẫn không đổi.

Ngoại trừ Abram, tất cả các yếu tố cấu tạo nên tiểu đoạn này đều mới và các tình tiết chỉ xuất hiện duy nhất ở đây: cái tên Melkisêđê, bánh rượu làm lễ vật, lời chúc lành, chúc tụng, dâng một phần mười chiến phẩm. Tất cả chi tiết ấy – cùng với Tv 110(109),4 làm cầu nối – sẽ được Tân Ước đọc lại dưới ánh sáng Bữa Tiệc Ly của Đức Giêsu.

Đặc biệt, con người Melkixêđê, trong truyền thống kitô giáo, được coi là tiền ảnh của Đức Kitô tư tế từ trời đến (x. Dt 7,3). Đây là hình ảnh tiên trưng của phúc lành đích thực sẽ được ban sung mãn cho Abram trong Đức Kitô. Người là vua vĩnh cửu của Giêrusalem thiên quốc. Điều mà Thiên Chúa đã khởi sự nơi Abram qua Melkisêđê, sẽ được Người hoàn tất trong Đức Kitô cho tất cả những ai tín thác vào Người. Và “Bánh , rượu ” là tiên trưng của Thánh Thể.

TIN MỪNG: Lc 9,10b-17

Đức Giêsu đang ở giai đoạn cuối của sứ vụ Người tại Galilê, Người sắp rời vùng đất này để tiến về Giêrusalem (9,51). “Giờ” đã tới rồi mà đoàn môn đệ vẫn còn non nớt. Trong chương 9 này, Đức Giêsu dồn nhiều nỗ lực đào tạo Nhóm môn đồ cơ bản nhằm giúp họ nhận ra căn tính của Người (9,18-21); nhận ra con đường Thập giá là con đường đưa tới vinh quang (9,22.44-45.28-36); và là đường mà môn đệ phải đi (9,23-27).

Đức Giêsu đang nỗ lực đào tạo các tông đồ bằng cách cho các ông tham dự vào sứ vụ và quyền năng của Người (9,1-6.10-17). Bài đọc Tin Mừng hôm nay là trích đoạn phép lạ hoá bánh ra nhiều. Phép lạ này kông chỉ nhằm giải quyết vấn đề cái đói vật chất nhất thời trước mắt mà còn nhằm huấn luyện các tông đồ cung cách ứng xử như thế nào trước các nhu cầu của “đàn chiên”. Trách nhiệm tông đồ là phải nuôi dân cả hồn lẫn xác: tiếp đón, dạy dỗ, chữa lành, đáp trả các nhu cầu. Những điều đó, Đức Giêsu thực hiện trong phép lạ hôm nay; Rồi đến thứ Năm Thánh, Người truyền lại “bí quyết” cho các tông đồ: Thánh Thể, Truyền Chức (Nhất Lãm); Luật yêu nhau như Thầy, phục vụ rửa chân cho nhau (Gioan).

Trong chiều hướng đó, phép lạ hôm nay được coi là một hình ảnh báo trước việc lập bí tích Thánh Thể, nên được dùng trong lễ Mình Máu Thánh.

Trong văn mạch gần của Luca, phép lạ này nằm trong phần Đức Giêsu chuẩn bị ráo riết để giúp các tông đồ nhận ra căn tính của Người:

- 9,1-6 Người sai các ông đi thực tập sứ mạng của chính Người: “rao giảng Nước Thiên Chúa”, với quyền năng chữa lành kèm theo. 

- Các ông về và báo cáo kết quả (9,10); được Thầy đưa vào hoang địa và chứng kiến phép lạ (9,10-17)

- Và ngay sau đó là tuyên tín của Phêrô (9,18-21).

Đức Giêsu muốn các ông nhận ra căn tính thiên sai của Người trước khi lên đường tiến về Giêrusalem.

Và trong Luca, phép lạ bẻ bánh nuôi dân này trở thành dấu chỉ giúp hai môn đệ Emmau nhận ra Đấng Phục Sinh đang sống.

1/ Bối cảnh của phép lạ

- Sau cuộc đi thực tập về, Nhóm Đức Giêsu muốn tìm nơi nghỉ ngơi.

- Nhưng đám đông dân biết được nên họ cứ bám riết theo.

- Phản ứng của Đức Giêsu trước thái độ đó của đám đông: tiếp đón họ, nói cho họ (giảng dạy) về Nước Thiên Chúa, chữa lành họ.

- Và công việc đó kéo dài cả ngày mãi đến chiều. Có một sự gắn kết nào đó giữa Đức Giêsu và đám đông đến độ cả hai bên như quên thời gian, quên cả đói.

- Và các môn đệ phải nhắc Đức Giêsu.

2/ Diễn tiến của phép lạ:

*Lời nhắc và đề nghị của Nhóm Mười Hai (c.12): giải tán đám đông để họ tự lo về chỗ ăn chốn ở. Đề nghị có vẻ hợp lý cho tình huống trước mắt. Nhưng Đức Giêsu đã không chấp nhận giải pháp “phân tán”. Vì sao vậy?

Vì Đức Giêsu không muốn để cái nghèo nàn đói khổ vật chất phân tán những người mà Người đã quy tụ lại. Vì bản chất của Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu vừa rao giảng không chấp nhận giải pháp phân tán mạnh ai nấy lo cho phần mình mà bỏ mặc kẻ khác. Thần dân của Nước Thiên Chúa không thể sống theo kiểu “mỗi người là một hòn đảo”.

*Giải pháp của Đức Giêsu (c.13a): “anh em hãy cho họ ăn đi”.

Lệnh truyền của Đức Giêsu làm các môn đệ chới với! Làm cách nào đây? Các ông chỉ có năm cái bánh và hai con cá. Số lượng đó dùng chỉ cho Nhóm Mười Hai thì được (các ông mang theo đủ ăn vì đã có dự tính: c.10b), còn ở đây đến năm ngàn người.

Đó là cái nhìn ích kỷ của nhân loại đang bị tội lỗi khống chế: “phần ai nấy lo”. Còn Đức Giêsu khi đưa ra lệnh truyền, không hề có ý bắt bí các môn đệ: không bao giờ Thiên Chúa tìm cách đẩy con người vào ngõ cụt:

- Chúa muốn con người ý thức giới hạn của mình.

- Đồng thời cũng phải thấy được trách nhiệm của mình trước sứ vụ tông đồ bao la.

- Để rồi cuối cùng vẫn dấn thân nhưng phó thác, không đòi giải quyết vấn đề theo tầm nhìn hạn hẹp của mình mà luôn rộng mở lòng cho Thánh Ý Chúa. 

Trong Luca, các môn đệ có nghĩ đến một giải pháp kinh tế: thay vì giải tán để đám đông tự lo, thì các tông đồ bằng cách nào đó thu tiền đám đông rồi đi mua bánh về phát cho họ “trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám này”. Đó cũng không là điều Đức Giêsu mong đợi nơi môn đệ, nếu các ông có khả năng đi nữa.

*“Anhem hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm” (c.14)

Vấn đề chủ yếu không nằm ở chỗ chỉ giải quyết cái ăn; Vấn đề là phải làm cho đám đông ô hợp trở thành một cộng đoàn có tổ chức, trở nên dân Chúa, cộng đoàn công dân Nước Trời.

Việc Đức Giêsu bảo ngồi thành từng nhóm có trật tự gợi lại hình ảnh trong Xh 18,21-25. Đám dân ô hợp, nô lệ vừa ra khỏi Ai Cập là một gánh nặng quá sức Môsê, nhờ sự chỉ dẫn của Giêtrô nhạc phụ ông chia dân thành từng nhóm 1000, 100, 50, 10, mỗi nhóm có nhóm trưởng tương ứng. Nhờ vậy mọi việc dần ổn thoả. Cũng vậy Đức Giêsu đã tổ chức cho đám đông ô hợp thành một cộng đoàn trật tự quy tụ chung quanh Người.

Phép lạ đã diễn ra hoàn hảo với cộng đoàn ổn định, trật tự đó chứ không phải với đám đông ô hợp. Tất cả đều no nê trong an bình từ một tấm bánh do tay Đức Giêsu và các môn đệ phân phát. Bữa ăn như thế rõ ràng là hình ảnh của bàn tiệc Thánh Thể được báo trước.

3/ Phương thức Đức Giêsu thực hiện phép lạ (c.16):

“Đức Giêsu cầm lấy năm chiếc bánh… dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ…”. Câu trên giống như Lc 22,19 là lời Đức Giêsu đọc khi lập phép Thánh Thể. Toàn thể truyền thống tông đồ đã nhìn thấy trong cử chỉ bẻ bánh phân chia ở đây của Đức Giêsu là DẤU CHỈ và là sự LOAN BÁO về “Lễ Bẻ Bánh” tức bí tích Thánh Thể.

Tóm lại: ngang qua trình thuật hoá bánh ra nhiều này, Tin Mừng đã cho ta một dấu chỉ báo trước Mầu Nhiệm Thánh Thể.

Tuy nhiên…

Khi nói tới phép lạ, chúng ta thường nghĩ tới uy quyền thần linh, cách hành động siêu vời của Thiên Chúa mà quên đi phần đóng góp buộc phải có từ phía con người. Sở dĩ hôm nay chúng ta có được trình thuật kể lại phép lạ nhân bánh, thì yếu tố đầu tiên phải nói tới là:

- Lòng tin của đám đông; Sự gắn bó của họ đối với Đức Giêsu và đối với lời rao giảng của Người.

- Vì thế họ mới nhạy cảm trước dự tính “đi nghỉ” của Người; Rồi kiên trì bám theo Người vào đến tận hoang địa; Rồi nhất quyết ở lại với Người suốt cả ngày.

- Sẵn sàng, tin tưởng nghe theo sự sắp xếp,chỉ bảo của các tông đồ tạo nên một cộng đoàn trật tự.

Phần các tông đồ, đóng góp của các ông không hề nhỏ:

- Năm bánh và hai cá là sự chuẩn bị trước của các ông cho chuyến đi đã được Đức Giêsu dự tính (c.10).

- Các ông sẵn sàng trao lại tất cả phần đã chuẩn bị đó cho Đức Giêsu để Người thực hiện điều Người muốn.

- Các ông nhận ra nhu cầu của đám đông và nhắc nhở Đức Giêsu; Sẵn sàng nói lên suy nghĩ của mình, nhưng cũng sẵn sàng từ bỏ để theo Ý Thầy.

- Đức Giêsu  cũng cần đến sự phục vụ tận tình, vô vụ lợi của các ông: để phân phối bánh, phục vụ công trình của Thầy, phục vụ cộng đoàn.

Cũng thế, trong Bí Tích Thánh Thể:

Làm cho bánh rượu nên Mình Máu Chúa không phải là chuyện riêng của Đức Giêsu mà là công trình chung của toàn Nhiệm Thể. Thật vậy để có được Bí Tích Tình Yêu phải cần

- Hoa màu ruộng đất

- Lao công con người

- Lòng thành tín của con người dâng lễ phẩm lên Chúa

- Rồi Chúa thương nhận bánh rượu phàm trần ấy, với quyền năng Thánh Thần biến nên Mình Máu Đức Kitô, lương thực thần linh.

Vậy trong Thánh Thể: THIÊN – ĐỊA – NHÂN hiệp nhất nên một. Nhờ đó trở nên nguồn sống cho nhân loại và vũ trụ.

 

Pet. Đình Long, FSC

 


 

Đánh giá & chia sẽ bài viết

Hiển thị Bình luận

  1. Đang tải bình luận...

Để lại một bình luận

Mục lục
Copyright © Tỉnh Dòng La San Việt Nam 2022. All right reserved. Thiết kế bởi IT Express
Điều khoản sử dụng & Chính sách bảo mật