Ơn Gọi và Lời Đáp Trả - Chúa Nhật 2 Thường Niên Năm B

16/01/2021jos.thaiSuy niệm Chúa Nhật
Lời Chúa của Chúa Nhật 2 Mùa thường niên tập trung vào chủ đề ƠN GỌI và LỜI ĐÁP TRẢ. Phần Thiên Chúa, Người luôn nắm thế chủ động, đi bước trước, lên tiếng mời chọn con người, rồi sau đó con người mới đáp lại.

CHÚA NHẬT II B THƯỜNG NIÊN
1Sm 3,3b-10.19; Ga 1,35-42

Chủ đề: Ơn gọi từ Thiên Chúa và đáp trả của con người


* 1Sm 3,10: ĐỨC CHÚA đến…và gọi “Samuel, Samuel!” Samuel thưa: xin Ngài phán vì tôi tớ Ngài đang lắng tai nghe”.
* Ga 1,39: Đức Giêsu bảo họ: “đến mà xem!”. Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người.


    Sau Mùa Giáng Sinh, Phụng vụ bước vào Mùa Thường Niên thứ nhất tức là Mùa Thường Niên trước Lễ Tro. Lời Chúa trong Mùa Thường Niên mời tín hữu chiêm ngắm Đức Giêsu trong giai đoạn Người hoạt động công khai giữa lòng tuyển dân. Người tiếp tục tỏ mình ra cho họ qua các hoạt động rao giảng, các phép lạ và một cách đặc biệt qua việc tuyển chọn và đào tạo Nhóm Môn Đệ chuẩn bị nhân sự tiếp tục công cuộc tại thế của Người.
    Chúa Nhật II Mùa Thường Niên, Đức Giêsu tiếp tục TỎ MÌNH. Và đối tượng của lần tỏ mình này thì HẸP HƠN: Nhóm Môn Đệ được Người tuyển chọn. Cả ba năm đều hướng về chủ đề này dù nội dung các bài đọc vẫn khác nhau tùy theo năm. Giữa lòng Dân Chúa, Đức Giêsu chọn lựa, thiết lập cộng đoàn thiên sai; đào tạo họ, chuẩn bị họ làm nền cho cộng đoàn Dân Mới của Chúa là Giáo Hội sau này.
    Lời Chúa của Chúa Nhật II Mùa Thường Niên tập trung vào chủ đề ƠN GỌI và LỜI ĐÁP TRẢ. Phần Thiên Chúa, Người luôn nắm thế chủ động, đi bước trước lên tiếng mời chọn con người, rồi sau đó con người mới đáp trả. Tuy nhiên trong Lời Chúa của Chúa Nhật II B Mùa Thường Niên thì điểm được nhấn mạnh là vai trò của NGƯỜI TRUNG GIAN: cần phải có sự trợ giúp của một người trung gian để người được gọi có thể nghe và biện phân ra được ý Chúa và đáp trả lại được. Nhưng rồi chung cuộc thì kẻ được gọi cũng phải ĐÍCH THÂN GẶP GỠ, ĐÁP TRẢ TRỰC TIẾP lời mời của Chúa.
    Bài đọc một trích từ sách Samuel quyển một, thuật lại ơn gọi của cậu bé Samuel. Cậu là đứa con cầu tự được Thiên Chúa đoái thương nhận lời ban cho mẹ cậu là bà Anna, người vợ son sẻ của tư tế Ensana. Vì thế bà đã hứa, sau khi cai sữa, sẽ dâng cậu lại cho Thiên Chúa (1Sm 1,1-2,11). Vậy ngay từ bé, cậu đã ở lại đền thờ Silô cùng với gia đình tư tế Êli, phục vụ Thiên Chúa. Trong khi gia đình tư tế Êli sống bất xứng với ơn gọi, chức vụ của mình, thì Samuel lại đẹp lòng Chúa mọi đàng, vì thế Chúa quyết định loại bỏ nhà Êli và đưa Samuel vào thế chỗ (1Sm 2,12-36). Chính trong bối cảnh ấy, Chúa đã lên tiếng mời gọi Samuel.
    Đang đêm, Samuel ngự trong đền thờ, gần Hòm Bia Thiên Chúa. Chúa cất tiếng gọi cậu. Nhanh chóng tỉnh thức, tưởng thầy Êli gọi mình, Samuel chạy đến trình diện với Êli, nhưng Êli trả lời không hề gọi cậu, rồi bảo cậu về ngủ lại. Sự việc xảy ra đến ba lần. Và thầy Êli đã nhận ra rằng Chúa đã gọi Samuel. Êli hướng dẫn cho Samuel nhờ đó khi Chúa gọi lần thứ tư, gọi ĐÍCH DANH cậu “Samuel! Samuel!”, cậu đã thưa “Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe”. Như vậy, dù bất xứng, nhưng Êli vẫn là trung gian Chúa dùng để giúp Samuel nhận ra được tiếng Chúa. Và ơn gọi Samuel chỉ hoàn tất khi ông đích thân gặp Chúa và “không để cho một lời nào của Ngài ra vô hiệu”.
    Còn trong bài đọc Tin Mừng, vai trò trung gian giới thiệu Đức Kitô cho người khác có đến hai người:
Người thứ nhất là Gioan Tẩy Giả: ông đang đứng với hai người môn đệ của ông thì thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông liền nói với hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Và chỉ qua trung gian lời giới thiệu ấy, hai môn đệ của Gioan đã đến với Đức Giêsu để tiếp xúc ĐÍCH THÂN, TRỰC TIẾP gặp gỡ, ở với Giêsu và trở thành môn đệ Người.    
Người thứ hai đóng vai trò trung gian là ông ANRÊ, một trong hai môn đệ của Gioan vừa theo Đức Giêsu. Sau cuộc gặp gỡ ĐÍCH THÂN BIỆT VỊ và ở lại với Đức Giêsu; Ngay tức khắc Anrê đã trở thành “cánh tay nối dài” của Đức Kitô, làm trung gian đem em mình là Simon – Phêrô đến với Đức Giêsu.
    Vậy Tin Mừng nhấn mạnh đến QUÁ TRÌNH để một người trở thành môn đệ Đức Giêsu: * Trước tiên là phải cần một trung gian hướng dẫn, giới thiệu Đức Giêsu với người được chọn. * Tiếp theo là người được chọn phải ĐÍCH THÂN đến gặp gỡ Đức Giêsu. *Được Đức Giêsu soi sáng, giúp ý thức động lực, mục đích đến với Người: “các anh tìm gì thế?”. * Rồi Người đích thân mời gọi “Đến mà xem”. * Họ đã “đến”, “xem” và “ở lại” với Người. * Rồi trở thành môn đệ Người, CHỨNG NHÂN cho Người, lôi cuốn người khác đến với Người.
    Mỗi tín hữu qua trung gian Giáo Hội và nhiều trợ lực khác đã nên môn đệ Đức Giêsu. Đến phiên mình, hãy là trung gian giới thiệu Đức Giêsu cho người khác.


SUY NIỆM CHÚA NHẬT II B THƯỜNG NIÊN

“Quay lại, thấy hai môn đệ của Gioan đi theo mình, Đức Giêsu hỏi: ‘các anh tìm gì thế?’. Họ đáp ‘thưa rabbi, Thầy ở đâu?’. Người bảo họ: ‘đến mà xem’. Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm đó” (Ga 1,38-39).
Hôm nay phụng vụ bước vào Chúa Nhật II Mùa Thường Niên. Trong các lịch Công Giáo, ta thấy không có ghi Chúa Nhật I Mùa Thường Niên, mà thay vào vị trí đó là Chúa Nhật “Chúa Giêsu chịu phép rửa”, kèm theo bên cạnh là chi tiết này: “Thánh vịnh tuần I”. Đó là lời nhắc nhở: tuần lễ ngay sau lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa là tuần lễ thứ nhất của Mùa Thường Niên trước lễ Tro. Như vậy lễ này như là cái bản lề nối kết hai mùa Giáng Sinh và Mùa Thường Niên với nhau, với chủ đề chung là Đức Giêsu hiển linh và đối tượng được Chúa tỏ mình đi từ “số sót lại” của Israel đang sám hối chịu phép rửa của Gioan (lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa) sang Nhóm môn đệ tiên khởi của cộng đoàn thiên sai thời Tân Ước (Chúa Nhật II Mùa Thường Niên). Vào Mùa Thường Niên, Đức Giêsu giã từ thời ẩn dật, Người bắt đầu xuất hiện trong tư cách một người trưởng thành khoảng tuổi 30 (Lc 3,23) là tuổi có thể đảm nhận được những trách vụ quan trọng trong cộng đoàn Do Thái (x.Xavier Léon – Dufour “Dictionnaire du N.T” p.63), cụ thể có thể đảm nhận được vai trò làm “RABBI”, giảng dạy lề Luật, điều hành phụng tự trong cộng đoàn. Ngay lúc vừa xuất hiện công khai, Đức Giêsu đã được gọi là rabbi (Ga1,38).
    Tin Mừng Chúa Nhật II B Mùa Thường Niên trích từ Ga 1,19-2,12 nói về tuần lễ khai mạc sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Ngay lúc vừa xuất hiện, Gioan Tẩy Giả nhờ Cha mặc khải, Thánh Thần soi sáng, đã nhận ra Người là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian, Đấng trổi vượt hơn Gioan, ông không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người, Người chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần (Ga 1,29.30.33), Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (1,34).
    Các môn đệ Gioan, được thầy mình giới thiệu về Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” đã lập tức tin vào Người, nhanh chóng tìm đến gặp Người và tôn xưng Người là “rabbi”. Rabbi là tiếng Hipri có nghĩa là “Thầy của tôi”, còn trong tiếng Aram thì gọi là “rabbuni” (theo nghiên cứu ngữ học: x.DEB “Rabbi” và “Rabbouni”. Còn Ga 20,16 thì nói “rabbouni” là tiếng Hipri). Đó là ngày thứ ba trong tuần khai mạc. Yếu tố để đánh dấu “ngày” là “hôm sau” (1.29.35.43) và “ngày thứ ba” (2,1). Chủ điểm của ngày thứ ba này nói về ơn gọi của hai môn đệ của Gioan và ơn gọi của Simon Phêrô. Đặc điểm của ba ơn gọi này, được mô tả hôm nay là đến được với Đức Giêsu là nhờ qua trung gian giới thiệu của một người khác, Đó cũng là chủ đề Lời Chúa trong bài đọc một: nói về ơn gọi của Samuel; cậu bé nhận ra được tiếng Chúa gọi nhờ trung gian Thầy Êli.
    Công việc đầu tiên của Đức Giêsu theo Tin Mừng Gioan là qui tụ lại chung quanh Người những thành phần nòng cốt của cộng đoàn thời thiên sai. Thật vậy, trong Tuần khai mạc, Đức Giêsu chỉ gặp gỡ trực tiếp và thân tình với các môn đệ, không có một đối tượng nào khác xen vào mối tương quan tiên khởi này. Ngày cuối cùng của Tuần khai mạc, Đức Giêsu dự tiệc cưới và làm phép lạ cho cả đám đông được hưởng nhưng đối tượng liên hệ thân tình chỉ là các môn đệ và mở rộng ra một chút là các gia nhân đi múc nước đổ vào các chum. Dĩ nhiên phải kể tới Đức Mẹ. Và việc Người làm là để các môn đệ tin vào Người. Điểm nổi bật trong công cuộc qui tụ lại cộng đoàn thiên sai trong tuần khai mạc là VAI TRÒ CỦA NGƯỜI TRUNG GIAN. Cụ thể là Gioan Tẩy Giả là trung gian nối kết hai môn đệ của mình với Đức Kitô; Tới phiên mình, Anrê đã lôi cuốn em mình là Simôn Phêrô đến giới thiệu cho Đức Giêsu; Rồi Philipphê là cầu nối giữa Đức Giêsu với Nathanael; Cuối cùng Đức Maria đã là trung gian cứu nguy cho đôi tân hôn qua dấu lạ hóa nước thành rượu của Đức Giêsu được thực hiện dù “giờ của tôi chưa đến”.

HÀNH TRÌNH TRỞ NÊN NGƯỜI MÔN ĐỆ

1.    Vai trò của người trung gian: Ga 1,36-37
Trong Tin Mừng Nhất Lãm, các môn đệ tiên khởi của Đức Giêsu là Phêrô – Anrê – Giacôbê – Gioan – Matthêu. Tất cả đều được Đức Giêsu đích thân mời gọi trực tiếp “Hãy theo Ta”. Còn trong Tin Mừng Gioan, trong ngày thứ ba này, tất cả mọi ơn gọi đến với Đức Giêsu đều qua một trung gian: Anrê và “một người môn đệ khác của Gioan (có lẽ là người môn đệ Chúa yêu) đã đến được với Đức Giêsu là nhờ Gioan giới thiệu. Ngay sau đó Anrê lại giới thiệu em mình là Simon – Phêrô cho Đức Giêsu. Rồi đến hôm sau, Chúa trực tiếp gọi Philipphê; Rồi đến phiên mình, Philipphê làm trung gian đem Nathanael đến với Đức Giêsu.
    Như vậy có hai cái nhìn khác nhau về ơn gọi, bổ sung ý nghĩa cho nhau. Theo Nhất Lãm, ơn gọi là một hồng ân nhưng không, Thiên Chúa trực tiếp ban tặng cho người được chọn. Đó không phải là kết quả của lòng ao ước, khát vọng từ phía con người (x.Mc 5,18-19), lệnh của Người là thần linh, kẻ được mời không được chần chừ hoặc từ chối (x.Mt 8,21-22). Theo Nhất Lãm, môn đệ là người đi theo Đức Giêsu, “Hãy theo Tôi” (Mt 9,9; 4,19-22).
    Còn trong Tin Mừng Gioan, vai trò của người trung gian là quan trọng. Người trung gian về nói với người được gọi cái kinh nghiệm mà mình có được về Đức Giêsu để giới thiệu Đức Giêsu cho đối tượng mà mình muốn giới thiệu. Người trung gian là một chứng nhân, chứng nhân về lòng tin của mình. Gioan làm chứng Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” cho hai môn đệ mình (1,36); Anrê thì thuyết phục Phêrô bằng niềm tin của mình “chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (1,41); Còn Philipphê thì khẳng định với Nathanael rằng Đức Giêsu là “Đấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ đã nói tới” (1,45). Tin vào lời chứng đó, người được gọi sẽ đích thân đến gặp Đức Giêsu, được mời gọi “hãy đến mà xem”, “ở lại với Người” để rồi tới phiên mình lại trở nên người làm chứng về Đức Giêsu, là cánh tay nối dài của Đức Giêsu.
    Dung mạo của người môn đệ của Nhất Lãm và của Tin Mừng Gioan gặp nhau ở ba điểm: 1. Được Đức Giêsu mời gọi: “hãy theo Tôi”, “hãy đến mà xem” (Ga 1,39). 2. “Ở lại với Người” (Mc 3,14) (Ga 1,39). 3. Trở nên cánh tay nối dài của Người (Mc 3,14; 6,7), (Ga 1,41-42.46b).
2.    Đích thân gặp gỡ Đức Giêsu (Ga 1,38-39)
Tin lời người thầy trung gian, hai môn đệ bỏ thầy chạy theo Đức Giêsu. Tưởng chừng là họ sẽ chủ động gặp Người. Nhưng thực ra là Đức Giêsu đã nắm thế chủ động, Người đi bước trước: quay lại, thấy hai ông đang chạy theo mình, Đức Giêsu lên tiếng trước. Người trung gian chỉ là khơi gợi, làm vai trò chất xúc tác. Ơn gọi luôn là hồng ân nhưng không của Thiên Chúa, Thiên Chúa luôn đi bước trước, tạo điều kiện thuận lợi để kẻ được gọi có dịp gặp gỡ đích thân với Đức Giêsu. Tất cả phải đưa đến đích điểm của ơn gọi là ĐÍCH THÂN GẶP GỠ ĐỨC GIÊSU. Cuộc đối thoại do Đức Giêsu khởi xướng giúp các môn đệ ý thức rõ hơn động lực theo Người và mở lối cho họ đi vào trong mối tình thân với Người.
    “Các anh tìm gì thế?” (Ga 1,38): đi theo Đức Giêsu bên ngoài chưa đủ. Cái quan trọng là điều ẩn chứa bên trong lòng của người môn đệ khi quyết theo Đức Giêsu: theo Người với động lực, mục đích nào? Đức Giêsu muốn kẻ theo Người phải theo với tất cả con người sâu thẳm nhất của mình và hàm ý rằng phải kiên trì từng bước một thanh luyện cái động lực, cái cùng đích của việc theo Người sao cho phù hợp với đường lối của Chúa. Tin Mừng thứ tư cho thấy có nhiều loại động lực thúc đẩy người ta theo Đức Giêsu: - để tôn Người làm vua (Ga 6,24); - để tìm cách giết Người (7,1.19); để bắt Người (18,4.7); để khóc than vì Người đã chết (20,15)…Còn những người muốn làm môn đệ Đức Giêsu, họ tìm kiếm điều gì nơi Người?
    “Rabbi, Thầy ở đâu?”: “nơi đâu?” là câu hỏi có mặt khắp nơi trong Tin Mừng Gioan. Đó là câu hỏi liên can đến cội nguồn thần linh của Đức Giêsu (7,34; 8,14.19.21; 12,26; 14,3; 17,24) và cũng liên can đến Thập Giá (13,33.36).
    “Ở”: “ở lại” = “lưu lại” = mênô là từ đặc biệt của Tin Mừng thứ tư, diễn tả mối hiệp thông thâm sâu giữa Chúa Cha và Chúa Con (14,10; 15,10); giữa Thần Khí và môn đệ (14,7); giữa Đức Giêsu và môn đệ (15,4.5.6.7.9). Vậy câu hỏi “Thầy ở đâu?” hàm ý rằng các môn đệ xin được thông hiệp vào mối tương quan thâm sâu với Đức Giêsu, và qua Người, thông hiệp với Cha và Thần Khí nữa: “đối với thánh ký, hai môn đệ đã mặc nhiên nói lên với Đức Giêsu lời thỉnh cầu căn bản của Philipphê và của mọi người: Ngài hãy chỉ cho chúng tôi Chúa Cha và như vậy là đủ cho chúng tôi” (14,8) (Giáo Hoàng Piô X, Học việc Đà Lạt “Chú giải Phúc Âm Chúa Nhật năm B, Mùa Thường Niên” trang 12). Đáp lại Đức Giêsu mời “hãy đến mà xem”: để biết Đức Giêsu “ở đâu” cần đích thân “đến xem”, để đi vào trong tương quan thâm sâu với Người cần có cảm nghiệm biệt vị về Người. Cách nói đó hàm nghĩa là hãy tin vào Người, bước theo Người và thành nên môn đệ Người.
    “Họ đã đến xem…và Ở LẠI với Người”: đáp lại lời mời, họ đã đến, xem, ở lại với Người, họ bắt đầu đi vào mối tương quan mật thiết với Người. Và mối hiệp thông đó phải sinh trái (như sau này Người nói trong dụ ngôn cây cành nho (15,4). Và thực sự họ đã sinh trái ngọt dù chỉ mới ở lại với Người chỉ một ngày.
3.    Trở nên cánh tay nối dài của Đức Giêsu: họ sinh trái, trở thành chứng nhân đưa dẫn người khác đến làm môn đệ Đức Giêsu. Một trong hai môn đệ là Anrê, anh của Simon – Phêrô, đã cho trái ngọt chỉ sau một ngày ở với Đức Giêsu. Một khi đã đi vào mối hiệp thông thân tình với Đức Giêsu, người môn đệ lập tức được biến đổi trở thành người trung gian mới đưa người khác vào mối hiệp thông nên một với Đức Giêsu. Đây là cách diễn tả của Tin Mừng thứ tư về lệnh truyền truyền giáo mà Đấng Phục Sinh trao cho các môn đệ trong Mt 28,19-20.
“Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”: đó là kinh nghiệm biệt vị của Anrê về Đức Giêsu: ông đón nhận chứng từ của Gioan Tẩy Giả về Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” nhưng sau một ngày tiếp xúc biệt vị với Đức Giêsu, ông đã loan báo điều ông đã tin “Người là Đấng Mêsia”. Anrê tuyên xưng, làm chứng về niềm tin của ông, nhưng đó là niềm tin của cộng đoàn: “CHÚNG TÔI đã gặp Đấng Mêsia”.
    Gặp Đấng Mêsia, trở nên con người mới: Đức Giêsu nhìn ông Simon và nói: “anh sẽ được gọi là Kêpha”. Với Tin Mừng thứ tư, việc đổi tên cho Phêrô được thực hiện ngay trong cái nhìn, lần gặp đầu tiên, làm nổi bật dự tính thần linh của ơn gọi, chưa cần Phêrô phải tuyên tín hay làm gì cho Chúa như trong Mt 16,16-19. Ơn gọi là nhưng không, chẳng tùy thuộc vào công nghiệp, đạo đức cá nhân. Chúa chỉ cần những con người hoàn toàn tín thác vào Chúa, sẵn sàng khi nghe được tiếng Chúa (qua trung gian hay trực tiếp) là “đến mà xem” ngay, rồi “ở lại với Người” để Người đào tạo biến đổi thành chứng nhân, thành cánh tay nối dài của Chúa.

 

 

Pet. Đình Long, FSC

Đánh giá & chia sẽ bài viết

Hiển thị Bình luận

  1. Đang tải bình luận...

Để lại một bình luận

Mục lục
Copyright © Tỉnh Dòng La San Việt Nam 2023. All right reserved. Thiết kế bởi IT Express
Điều khoản sử dụng & Chính sách bảo mật