Đức Giêsu phục sinh là nguồn ơn cứu độ cho chiên - Chúa Nhật 4 Phục Sinh Năm B

CHÚA NHẬT IV B PHỤC SINH
Cv 4,8-12; Ga 10,11-18
Chủ đề: Chúa nhật CHÚA CHIÊN LÀNH
Đức Giêsu phục sinh là nguồn ơn cứu độ cho chiên
* Cv 4,12: ngoài Đức Giêsu ra, không có ai, không có danh nào mang lại ơn cứu độ.
* Ga 10,11: Tôi chính là Mục Tử nhân lành… hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên.
Chúng ta bước vào Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh. Bắt đầu từ đây, các bài đọc Tin Mừng của các ngày Chúa Nhật không đề cập đến những lần hiện ra của Đức Giêsu nữa, và quay về lại với những họat động của Đức Giêsu lúc còn sinh tiền. Chủ đề chính là mời các tín hữu đã tin vào Đấng Phục Sinh hãy dấn thân vào mối tương quan thâm sâu, nghĩa thiết với Đấng Phục Sinh, được biểu lộ qua những hình ảnh quen thuộc của cuộc sống của người Do Thái: - Chúa nhật IV dùng hình ảnh CHIÊN VÀ MỤC TỬ; - Chúa nhật V là CÂY NHO VÀ CÀNH; - Chúa nhật VI là TÌNH BẠN HỮU VÀ GIỮ GIỚI RĂN.
Dưới ánh sáng của mầu nhiệm Phục Sinh thì những tương quan được Đức Giêsu báo trước ấy là hoa trái đương nhiên của Mầu Nhiệm Phục Sinh và giờ đây trở nên hiện thực trong cuộc sống của các môn đệ và của Hội Thánh. Vấn đề còn lại là về phía nhân loại, các môn đệ mọi thời có can đảm tin và dấn thân đi sâu vào trong những tương quan đó hay không? Và bản thân mình phải rao giảng, làm chứng để LƯU TRUYỀN các tương quan ấy cách trung thực cho các thế hệ tương lai hay không? Với Hội Thánh chắc chắn là có nhờ Đấng Phục Sinh là ĐẦU NHIỆM THỂ và THÁNH THẦN LÀ LINH HỒN; Nhưng còn phần TỪNG CÁ NHÂN; Mỗi CỘNG ĐOÀN thì sao?
Chúa nhật IV B nhấn mạnh khía cạnh Đức Giêsu là CHỦ CHĂN NHÂN LÀNH, nên Chúa nhật này được gọi là Chúa nhật CHÚA CHIÊN LÀNH, cầu nguyện đặc biệt cho ơn thiên triệu LINH MỤC và TU SĨ sẽ là những chủ chăn mọi thời mà Chúa Phục Sinh đã đặt để hầu coi sóc đàn chiên Hội Thánh. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đưa ra vài tiêu chí giúp biện phân, nhận ra thế nào là một MỤC TỬ TỐT.
1- Yếu tố tiên quyết là DÁM, SẴN SÀNG HY SINH MẠNG SỐNG MÌNH cho đàn chiên; dám liều mình dấn thân đối đầu với mọi hiểm nguy để bảo vệ chiên.
2- Tiếp đến là BIẾT RÕ đàn chiên của mình (biết tên từng con: Ga 10,3) và chiên cũng nhận biết chủ. Đây không phải là sự hiểu biết sự vật theo kiểu xác phàm, mà là cái BIẾT CỦA TÌNH YÊU rập khuôn theo cái biết của Chúa Cha và Chúa Con đối với nhau, được biểu lộ cụ thể qua việc Cha tặng ban cho Con Một và Con vâng lời Cha hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Nói cách khác “BIẾT” là biết giá trị, nên quý trọng đến sẵn sàng đổi mạng để cứu con chiên.
3- Mục Tử TỐT không chỉ lo cho chiên trong đàn hiện có của mình mà con còn phải ý thức, quan tâm đến nhiều chiên khác còn chưa thuộc về đàn, nên Mục Tử tốt phải luôn thao thức truyền giáo đi tìm những chiên lạc, mất rồi qui tụ về trong một đàn chiên duy nhất.
Trong ba yếu tố trên cái được Đức Giêsu nhấn mạnh hơn cả là HY SINH MẠNG SỐNG. Cụm từ này được lặp lại trong bài Tin Mừng đến năm lần (câu 11,15,17,18a,18b). Đây không phải là tình cảm bốc đồng, bộc phát, một hy sinh do hoang tưởng. Thực ra đây là sự vâng phục thần linh theo Ý Cha và được bảo chứng bằng việc Đức Giêsu lấy lại được sự sống mà Người đã hy sinh. Vậy người Mục Tử tốt phải xác tín và bước theo con đường thập giá – Phục sinh mà Đức Giêsu đã đi.
Theo chủ đề Mục Tử - Chiên, bài đọc một Chúa nhật IV B trình bày cho chúng ta dung mạo của một Mục Tử Tốt: đó là Thánh Phêrô:
Trong Cv 3,1-10, Phêrô đã “nhân danh Đức Giêsu Nadaret” để chữa lành cho một anh què. Vụ việc đó làm các thượng tế tức tối nên tống giam và tra hỏi ông (Cv 4,1-7). Thay vì sợ hãi, Phêrô đã chộp ngay cơ hội đó để rao giảng và làm chứng về Đấng Phục Sinh ngay cho các thượng tế và Thượng Hội Đồng Do Thái giáo. Trả lời cho câu hỏi chất vấn của thượng tế (Cv 4,7), Phêrô khẳng định: “chính nhờ Danh của Đức Giêsu Kitô người Nadaret, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào Thập Giá và đã được Thiên Chúa làm cho trỗi dậy từ cõi chết; chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành…”. Đó là điều mà các ngôn sứ đã báo trước (x.Cv 4,11 trích Tv 118,22). Rồi Phêrô kết luận (Cv 4,12): Giêsu là Danh duy nhất mang lại ơn cứu độ cho nhân loại.
Như vậy bài đọc một minh họa cho thấy các tông đồ chính là cánh tay nối dài của người Mục Tử tốt Giêsu và họ cũng là Mục Tử tốt, vì họ thực sự dám hy sinh mạng sống để công bố Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người, bất chấp mọi cản trở.
Chúng ta cầu nguyện cho Hội Thánh có nhiều ơn thiên triệu linh mục, tu sĩ như Chúa chiên lành mong ước; Và xin Thánh Thần mở rộng lòng tín hữu biết góp phần của mình vào việc đào tạo các Mục Tử tốt cho Đấng Phục Sinh.
SUY NIỆM
“Tôi là Mục Tử nhân lành…hi sinh mạng sống cho đàn chiên…Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi…Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này, Tôi cũng phải đưa chúng về” (Ga 10,11.14.16)
Chúng ta bước vào Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh. Vẫn còn là Mùa Phục Sinh, nhưng các bài đọc trong phụng vụ Lời Chúa không còn sử dụng những bản văn nói trực tiếp về những lần hiện ra của Đấng Phục Sinh nữa. “Biến cố phục sinh” thì không còn được đề cập đến trực tiếp nữa, nhưng những HOA TRÁI của Mầu Nhiệm Phục Sinh vẫn là chủ đề chính của các Chúa Nhật IV, V, VI Mùa Phục Sinh. Chủ đề của Lời Chúa năm B là HIỆP THÔNG.
Trong các bài đọc một: nhờ tin vào Đức Giêsu phục sinh mà các tông đồ, các tín hữu, người Do Thái, những kẻ chống đối, những người hung hăng bắt đạo như Phaolô, và kể cả sĩ quan dân ngoại cũng lần lượt đón nhận được hồng ân của Mầu Nhiệm Phục Sinh và từng bước đi vào sự HIỆP THÔNG, gia nhập cộng đoàn Giáo Hội. Thật vậy:
❖ Bài đọc một của Chúa Nhật Mùa Phục Sinh IV B, Cv 4,8-12 thuật lại chứng từ của Phêrô trước Thượng Hội Đồng, khi bị chất vấn về “tội” đã chữa lành một anh què và loan báo danh Đức Giêsu, tin rằng kẻ chết sống lại (x.Cv 4,2 – 18.28). Tận dụng “dịp may” này, Phêrô đã loan báo Tin Mừng Thập Giá và Phục Sinh của Đức Giêsu cho “qúy vị thủ lãnh trong dân và qúy vị kỳ mục” (Cv 4,8), như vậy là “toàn dân Israel” đều được nghe Tin Mừng phục sinh (Cv 4,10). Và kết quả là đã có đến 8.000 người tin (x.Cv 2,41 và 4,4). Câu kết của bài đọc một còn cho thấy hoa trái tương lai còn tuyệt vời hơn nữa: chỉ có danh thánh Giêsu mới mang lại ơn cứu độ cho nhân loại (Cv 4,12).
❖ Đến Chúa Nhật V B, hoa trái của phục sinh lan rộng đến cả những kẻ hung hăng chống đối các tín hữu, biến họ thành công cụ loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu ngoài sức tưởng tượng của con người. Đó là trường hợp trở lại của Phaolô kẻ bách hại đạo. Cv 9,26-31 thuật lại việc Phaolô, sau khi được Chúa hoán cải trên đường Damas, đã tìm đến Giêrusalem để HIỆP THÔNG với Giáo Hội Mẹ và đã được đón tiếp thân tình dù quá khứ của ông lầm lạc.
❖ Đến Chúa Nhật VI B, Mầu Nhiệm hiệp thông, hoa trái của phục sinh đã lan đến với cả dân ngoại. Cv 10,25-26.34-35.44-48 thuật lại sự kiện Phêrô đã được Chúa soi sáng nhận ra ý nghĩa của các dấu chỉ và đã đón nhận dân ngoại, gia đình viên sĩ quan Cornêliô của Roma được hiệp thông vào cộng đoàn tín hữu.
Như vậy “phục sinh” không phải là chuyện riêng tư của cá nhân Giêsu, mà là hồng ân Thiên Chúa trao tặng cho toàn nhân loại: trong Đức Giêsu, toàn thể vũ trụ được hiệp thông, nên một thành nhiệm thể Đức Giêsu, để rồi khi ngày chung cuộc tới, những gì Thiên Chúa đã hoàn tất nơi Đức Giêsu, Người cũng sẽ hoàn tất trọn vẹn nơi từng chi thể của Nhiệm Thể.
Còn trong bài đọc Tin Mừng: chủ đề HIỆP THÔNG được diễn tả qua những hình ảnh quen thuộc của xứ Palestin.
❖ Chúa Nhật IV B đọc Ga 10,11-18 hình ảnh được dùng để mô tả sự hiệp thông là tương quan mật thiết, hỗ tương giữa Chúa Cha - Đức Giêsu - và môn đệ là MỤC TỬ - ĐÀN CHIÊN.
❖ Chúa Nhật V B đọc Ga 15,1-8 hình ảnh minh họa hiệp thông là Cây Nho (Đức Giêsu) - Cành (tín hữu môn đệ) - Người trồng nho (Thiên Chúa Cha).
❖ Chúa Nhật VI B đọc Ga 15,9-17: mối dây hiệp thông Chúa Cha - Đức Giêsu và - môn đệ là lòng mến và niềm vui. Chúa Nhật này nhấn mạnh tới thái độ đáp trả của môn đệ là GIỮ CÁC ĐIỀU RĂN của Đức Giêsu theo gương Đức Giêsu đã giữ các điều răn của Cha.
Như vậy những gì Đức Giêsu đã loan báo lúc sinh tiền thì Người đã hoàn tất trọn vẹn nhờ Mầu Nhiệm Thập Giá và Phục Sinh.
MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG TRONG CHÚA NHẬT IV B
1. Bài đọc một: Hiệp thông là công trình của Chúa Thánh Thần
Từ một việc tốt là chữa lành một người què và rao giảng danh Đức Giêsu mà các tông đồ đã bị thẩm vấn (Cv 4,9). Lợi dụng dịp tốt, Phêrô đã biến buổi thấm vấn thành bài rao giảng về mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh của Đức Giêsu cùng những hoa trái tuyệt vời của mầu nhiệm đó (4,10). Đó chính là công trình của Thiên Chúa (4,11). Đối tượng của bài giảng này lại là “các thủ lãnh Do Thái, các kỳ mục và kinh sư…có cả Thượng Tế Khanan, Caipha…và MỌI NGƯỜI trong dòng họ Thượng Tế” (Cv 4,5-6), nghĩa là toàn thể hàng lãnh đạo, vị vọng cả đạo lẫn đời đều được quy tụ lại để “thẩm vấn”, nhưng rốt cuộc, thực tế là để nghe Phêrô loan báo Tin Mừng Thập Giá – Phục Sinh và hoa trái của Tin Mừng đó. Chúng ta thử hỏi làm sao hai anh ngư phủ dốt nát lại có thể tập họp được toàn thể ban lãnh đạo Do Thái lại để ngồi nghe Phêrô giảng một điều mà họ không ưa, không thích nghe?
Đó là công trình của Đức Giêsu Kitô người Nadaret (Cv 3,6), là công trình của Chúa Cha (Cv 3,13-16), là công trình của Chúa Thánh Thần (Cv 4,8a). Thật vậy được Thánh Thần thúc đẩy, Phêrô mới làm được lời rao giảng kỳ diệu này cho toàn thể ban lãnh đạo Do Thái. Như vậy cho đến giây phút Phêrô loan báo bài giảng này thì toàn bộ Do Thái giáo từ hải ngoại cho đến Do Thái tại Palestin (Cv 2,5-11), tất cả Do Thái gốc hay đạo theo…đã tin vào Đấng Phục Sinh và hoa trái là có 3.000 người theo đạo (Cv 2,41); Và giờ đây qua dấu lạ anh què “toàn dân” được nghe Tin Mừng và kết quả là có thêm 5.000 người, chỉ tính đàn ông, tin vào Đấng Phục Sinh (Cv 4,4). Mặc dù thù nghịch, chống đối nhưng rồi dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, toàn bộ hàng lãnh đạo Do Thái giáo cũng được nghe Phêrô loan báo Tin Mừng.
Như vậy hoa trái của Thập Giá – Phục Sinh là sự HIỆP THÔNG đã được Thiên Chúa đề nghị, tặng ban cho toàn dân Do Thái. Thiên Chúa không hề bỏ, không hề quên lãng dân Người đã chọn. Toàn dân, kể cả tân tòng, người kính sợ Chúa theo đạo Do Thái, đều được ưu tiên đón nghe Tin Mừng trước nhất từ các tông đồ, và Chúa cũng đã đón nhận họ: 8.000 tin Chúa. Phần còn lại là sự tự do đáp trả của từng người trước dự tính đầy yêu thương đó của Thiên Chúa. Chính Thần Khí Thiên Chúa đã thực hiện dự tính đó của Cha trong Đức Giêsu Kitô (Cv 3,8.16-21).
2. Hiệp thông là cho toàn nhân loại, đó là ý định từ muôn đời của Cha
“Tảng Đá mà người thợ xây loại bỏ lại trở nên Đá Tảng Góc Tường”. Phêrô đã áp dụng câu Tv 118,22 vào trong hòan cảnh cụ thể để loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Như vậy điều đang diễn ra trong hiện tại thực ra là Ý Định từ muôn đời của Thiên Chúa đã từng bước được Thiên Chúa loan báo trước. Thật vậy, trong bài công bố Tin Mừng Phục Sinh này: “Tảng Đá” chính là Đức Giêsu; “Thợ xây” là Thượng Hội Đồng và người Do Thái; “loại bỏ” là giết chết bằng đóng đinh Thập Giá; “trở nên Đá Tảng Góc Tường” tức là được Thiên Chúa cho phục sinh trở thành nền tảng và sự hoàn chỉnh của công trình Thiên Chúa.
3. Mở rộng: Hiệp thông là tin nhận tính phổ quát của ơn cứu độ do Đức Giêsu mang tới: trong vụ án này, các thủ lãnh Do Thái, trước tiên muốn hạch tội các tông đồ vì đã nhân danh Đức Giêsu Thập Giá và Phục Sinh để chữa lành cho anh què rồi từ đó công bố luôn niềm tin kẻ chết sống lại (Nhóm Xađốc phần lớn là tư tế không tin điều này) (x.Cv 4,4); Sau đó là muốn cấm giảng dạy nhân danh Đức Giêsu. Nhưng Phêrô khẳng khái đáp lại: đó là ý định của Thiên Chúa, phải nghe Thiên Chúa hơn nghe phàm nhân (Cv 4,19-20). Rồi từ chuyện anh què được cứu sờ sờ trước mắt đó, Phêrô mở rộng luôn hoa trái của phục sinh cho toàn thể tạo vật “dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Tất cả mọi người (chứ không phải chỉ có anh què) đều được hiệp thông vào ơn cứu độ của Thiên Chúa nhờ danh Đức Giêsu. “GIÊSU là tên mặc khải, có nghĩa là “Thiên Chúa cứu” (x.Mt 1,21; Lc 1,31).
II. Bài đọc Tin Mừng
1. Ba Ngôi: cội nguồn của hiệp thông
Từ thuở đời đời Thiên Chúa đã muốn con người hiệp thông vào bản tính thần linh của Chúa: “Chúng Ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh Chúng Ta”. Qua công cuộc này Thiên Chúa đã biểu lộ tính CỘNG ĐOÀN, HIỆP THÔNG nội tại của Chúa.
Rồi khi con người sa ngã, đơn phương cắt đứt mối dây hiệp thông, Thiên Chúa vẫn không bỏ cuộc: Yavê (Thiên Chúa Cha) hứa ban Đấng Đạp Đầu Rắn (Đức Giêsu) sinh làm con một người đàn bà (St 3,14-15); Và khi đến thời đến buổi, Thiên Chúa hoàn tất công cuộc nhờ “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1,35).
Chân lý trên được Tin Mừng Gioan diễn tả: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian…là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ…” (Ga 3,16-17); Nhân loại được hiệp thông vào hồng ân lớn lao đó “nhờ được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên… bởi nước và THẦN KHÍ” (Ga 3,3.5).
Chân lý ấy được bài đọc Tin Mừng hôm nay diễn tả: “…Chúa Cha biết Tôi và Tôi biết Chúa Cha và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên (Ga 10,15) Tôi tự nguyện hy sinh mạng sống mình theo đúng mệnh lệnh mà Tôi nhận được từ nơi Cha (x.Ga 10,18).
2. Hình ảnh minh họa mối hiệp thông thần linh: đó là mối tương quan hỗ tương mật thiết giữa Mục Tử nhân lành và đàn chiên theo như Ý Cha. Mối tương quan giữa bộ ba: Cha – Mục Tử tốt – Chiên được diễn tả bằng từ “BIẾT”: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết Tôi và Tôi biết Chúa Cha” (Ga 10,14-15). Đó là cách thể hiện tuyệt vời dự tính từ muôn đời của Thiên Chúa “con người là hình ảnh Thiên Chúa”.
“Biết” ở đây không là năng lực thuần lý của trí tuệ con người. Vì lý trí giới hạn, đầy sai lầm của phàm nhân không thể nào chứa đựng hết ý định thần linh bao trùm toàn bộ lịch sử cứu độ được. Chúa “BIẾT” điều đó nơi ta, nên Chúa đã tìm ra cách thức để đưa chúng ta HIỆP THÔNG vào cái “Biết” của Thiên Chúa.
Vậy cái “biết” ở đây về phần Thiên Chúa là những mặc khải Chúa bày tỏ từng bước một cho nhân loại trong dòng lịch sử cứu độ; Và về phần con người Chúa chỉ mong chúng ta mở rộng cõi lòng đón nhận mặc khải của Thiên Chúa, sẵn sàng hiệp thông kết hiệp với Chúa để Thiên Chúa hoàn tất ý định của Người đã dự liệu cho chúng ta từ bao thuở.
Điều mặc khải ấy được Tin Mừng hôm nay diễn tả phần nào qua hình ảnh Mục Tử TỐT và ĐÀN CHIÊN.
3. Tôi là Mục Tử Tốt: trong Kinh Thánh, hình ảnh “Mục Tử - đàn chiên” thường được dùng để diễn tả mối tương quan giữa Thiên Chúa với Israel, hoặc giữa hàng lãnh đạo: vua, tư tế, ngôn sứ với dân.
Trong dòng lịch sử, hàng lãnh đạo là những người được Chúa chọn để chăm sóc cho dân là đoàn chiên của Chúa. Lẽ ra họ phải chu toàn trách vụ đối với chiên theo Ý Chúa; Nhưng thực tế, lắm phen họ đã lợi dụng quyền thế để bóc lột chiên, làm chiên tan tác. Đó là những mục tử bất lương, đã bị biến chất thành kẻ chăn thuê. Chính vì thế Chúa phải can thiệp lấy lại đàn chiên và ban một lời hứa “kép”: một mặt Chúa hứa “chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm” (Ed 34,11); mặt khác, Chúa cũng hứa “Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng… đó là Đavít, tôi tớ Ta… chính nó sẽ là mục tử của chúng (Ed 34,23). Cuối cùng khi tới thời buổi, Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa thật, vừa là con người thật con cái vua Đavít, đã tới hoàn tất lời hứa của Cha.
4. Đặc điểm của Mục Tử Tốt: “hy sinh mạng sống mình”, được lập lại đến năm lần trong đoạn ngắn Tin Mừng hôm nay (cc.11b,15b,17,18a,b). Tại sao Mục Tử Tốt lại phải chết? Chết rồi thì ai chăm sóc đàn chiên? Thật ra người Mục Tử Tốt hy sinh mạng sống là vì đàn chiên (các câu 11,15,17) nghĩa là để cho đàn chiên được sống. Bằng cách nào mà một mục tử đã chết lại làm cho chiên được sống? Bằng cách hy sinh mạng sống mình để rồi LẤY LẠI (c.17); vì Tôi có quyền hy sinh và có quyền LẤY LẠI mạng sống ấy (c.18). Cách làm đó là MỆNH LỆNH CHA (c.18)
Hóa ra, đó là cái “BIẾT” của Cha và Con đối với đàn chiên (c.14) Thật vậy, Cha và Con (Mục Tử Tốt) biết đàn chiên vì tội nên phải chết. Đó chỉ mới là cái biết sự kiện thuần lý, không đem lai sự sống cho chiên. Cha và Con mới đưa cái biết sự kiện đó vào cái biết thần linh: như Cha biết Con và Con biết Cha, nghĩa là Cha và Con đảm nhận luôn số phận phải chết của chiên làm số phận củ mình (hy sinh mạng sống) để rồi sẽ thông ban lại cho chiên cái sự sống vĩnh cửu của Cha và Con. Và khi mọi sự hoàn tất ở mức trọn vẹn thì Cha – Mục Tử Tốt – và chiên có chung một số phận. Đó chính là cái BIẾT THẦN LINH được nói ở c.14.
Vậy cái chết của Mục Tử Tốt không là một hy sinh khờ khạo, vô lối, mà đó là cái BIẾT Thần Linh, là đường lối của Cha mà Mục Tử Tốt phải thực hiện để HIỆP THÔNG thần tính (để chiên được sự sống thần linh).
Vậy Mục Tử Tốt hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên… để rồi lấy lại chính là cách thức mà Cha và người Mục Tử Tốt thể hiện ra cách cụ thể cái “biết thần linh” vào trong cuộc sống của đàn chiên ngay trong hiện tại: cho chiên hiệp thông vào mầu nhiệm chết và sống lại của Đức Giêsu, vị Mục Tử Tốt ngay tại thế trong khi chờ Quang Lâm.
5. Phần chiên: Hiệp Thông với Cha và Mục Tử như thế nào?
Bằng cách BIẾT và NGHE
❖ BIẾT: như đã chia sẻ ở II.2, cái “biết” của đàn chiên là mở rộng cõi lòng trước mặc khải của Thiên Chúa, để Thiên Chúa và Mục Tử Tốt hoàn tất cái “biết”, điều mặc khải của Thiên Chúa nơi chính mình. Để mọi người nhìn thấy chiên thì nhận ra đó là môn đệ của Mục Tử Tốt, để nên giống Thầy “thấy Thầy là thấy Cha”.
❖ NGHE TIẾNG Mục Tử Tốt: đây là ước nguyện của Mục Tử Tốt đối với những con chiên còn chưa thuộc về ràn. Chiên một khi đã hiệp thông, đã biết Mục Tử thì cũng phải hiệp thông với Mục Tử bằng truyền giáo, làm cánh tay nối dài của Mục Tử.
Vậy Cha đang tiếp tục hoàn tất nơi từng con chiên, điều Người đã hoàn tất nơi Người Mục Tử Tốt. Mỗi “con chiên”, tới phiên mình phải thành “mục tử tốt” quy tụ những chiên khác ràn về một ràn dưới quyền một chủ chăn duy nhất.
TÌM HIỂU 2 BÀI ĐỌC
Chủ điểm phụng vụ
Phụng vụ gọi Chúa nhật 4 Mùa Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành vì cả 3 năm Tin Mừng đều dùng hình ảnh chủ chăn đàn chiên để diễn tả tương quan giữa Đức Giêsu và tín hữu. Năm B nhấn mạnh khía cạnh Đức Giêsu là chủ chăn nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên, nhờ cái chết của Người mà nhân loại được cứu: cụ thể, trong bài đọc 1, anh què được chữa lành nhờ Danh Đức Giêsu. Từ đó, chủ đề chính của Chúa Nhật 4B Mùa Phục Sinh là: Đức Giêsu cội nguồn ơn cứu độ, con đường duy nhất đưa tới ơn cứu độ.
Tin Mừng trình bày chủ đề qua một hình ảnh do chính Đức Giêsu tự mặc khải: Người là Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đàn chiên, chứ không như các người làm thuê, khi gặp nguy là bỏ chiên mà chạy bỏ mặc chiên cho sói dữ. Ngoài ra chủ đề còn ẩn trong thao thức của Đức Giêsu là muốn quy tụ tất cả những chiên khác về một ràn duy nhất dưới sự chăm sóc của Người. Đó là Thánh Ý Cha và con đường Cha muốn Người phải đi để thực hiện thao thức ấy là tự nguyện hy sinh mạng sống (tức thập giá) để rồi lấy lại (Phục Sinh), từ đó Người trở nên nguồn sống của chiên.
Bài đọc 1 là minh hoạ cụ thể cho chủ đề: Phêrô bị bắt vì việc chữa lành anh què và rao giảng Danh Đức Giêsu, đã mạnh dạn lên tiếng trước Thượng Hội Đồng (THĐ) nói lên sự thật: Đức Giêsu đã bị quý vị đóng đinh, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại; Chính nhờ danh Người mà anh què đã được lành bệnh. Rồi từ sự kiện ấy Phêrô tuyên tín: ngoài Đức Giêsu ra, không ai đem lại ơn cứu độ; dưới gầm trời này chỉ một mình Danh Người là nơi nhân loại có thể cậy dựa vào để được giải cứu.
BÀI ĐỌC I: Cv 4,8-12
Văn mạch
Xem Chúa Nhật 3B Mùa Phục Sinh
Sau khi được lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các Tông đồ bắt đầu hoạt động công khai: rao giảng và làm phép lạ. Phép lạ đầu tiên được sách Công vụ thuật lại là việc chữa lành anh què tại Cửa Đẹp Đền Thờ (3, 1-10), dân chúng hiếu kỳ bu lại (13, 11). Lợi dụng dịp tốt, Phê rô giảng cho dân một bài về thập giá và Phục Sinh của Đức Giêsu, đồng thời mời dân hoán cải, tin vào người để được ơn tha tội ( 3, 12 -26). Kết quả là có đến 5.000 người đã tin Đức Giê-su (4, 4). Trước sự việc ấy, phản ứng của các lãnh đạo tôn giáo đầy vẻ tiêu cực: Họ đã tống ngục Phêrô và Gioan, sau đó hạch hỏi các vị đã nhân danh ai, quyền nào mà làm phép lạ (4, 5-7). Lợi dụng cơ hội tốt, Phêrô một lần nữa công bố sứ điệp Tin Mừng Phục Sinh, tuyên xưng chính nhờ Danh Đức Giêsu mới mang lại ơn cứu độ cho toàn thế giới (4, 8-12). Sau khi thảo luận, Thượng Hội Đồng răn đe cấm đoán các tông đồ không được rao giảng về Danh Đức Giêsu nữa. Tuy nhiên hai Tông đồ phản kháng lại “phải nghe lời Thiên Chúa hơn nghe lời Thượng Hội Đồng” (4, 13 -20). Cuối cùng họ đành phải thả hai vị (4, 21-22).
Bài đọc 1 là lời Kerygma, lần này hướng về Thượng Hội Đồng, nội dung nhấn mạnh đến Danh Đức Giêsu là cội nguồn ơn cứu độ.
CẤU TRÚC VÀ CHÚ THÍCH
1. Câu đáp Phêrô trước Thượng Hội Đồng (Cv 4, 8 – 10)
• Động lực thúc đẩy Phêrô lên tiếng “được đầy Thánh Thần” (8a)
• Đối tượng: các thủ lãnh trong dân và kỳ mục (8b)
• Nhắc lại nội dung lời thẩm vấn, gồm hai điểm:
- Về việc lành đã làm cho một người tàn tật
- Về cách thức người ấy đã được cứu chữa (9)
* Lời đáp vừa là câu trả lời vừa là lời kết án:
- Nhân danh Đức Giêsu Kitô người Nadaret
- Đấng đã bị quý vị đóng đinh vào thập giá và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết
- Chính nhờ Danh ấy mà người này được lành mạnh, đứng trước quý vị đây (10)
“ Được đầy Thánh Thần”: Thánh Thần luôn đồng hành với đoàn môn đệ, nhất là lúc phải đối đầu với thế gian để làm chứng về Đấng Phục Sinh. Đó là điều Đức Giêsu đã hứa ban khi còn sinh tiền (Lc 12, 11-12;21, 12-15). Do đó với Chúa Thánh Thần, người tín hữu trong mọi hoàn cảnh dù thuận hay bất lợi đều sống được ơn gọi làm chứng nhân mà Đấng Phục Sinh đã giao cho mình. Cụ thể là ở đây, ngay trước mặt các thượng tế và Thượng Hội Đồng Do Thái, các ngư dân ít học đã chững chạc công bố Tin Mừng Phục Sinh và các hoa trái tốt lành của Tin Mừng ấy. Với Đấng Phục Sinh và Chúa Thánh Thần không gì cản trở được sự lớn mạnh của Tin Mừng trừ phi chính các chứng nhân khước từ loan báo, khước từ nhiệm vụ.
Đối tượng của câu đáp: lúc nhắc lại câu hỏi thì đối tượng Phêrô nhắm tới là các thủ lãnh, nhưng khi đáp thì nhắm tới toàn thể Israel: thủ lãnh lẫn toàn dân (10 a), và phần kết án dường như cũng nhắm vào toàn dân (3,12-17), tuy nhiên kết án không nhằm luận phạt mà nhằm thức tỉnh, mời gọi sám hối và tin vào Đức Giêsu để được thứ tha, hưởng ơn cứu độ (3,19-21; 4,4)
Nội dung câu đáp: đó là lời kerygma tiên khởi loan báo Đấng chịu đóng đinh đã được “Thiên Chúa làm cho trỗi dậy từ cõi chết", và hoa trái cụ thể của sự Phục sinh đó là anh què đã được chữa lành nhờ danh Đức Giêsu đang đứng trước mặt các vị đây.
Lời rao giảng và bằng chứng cụ thể trước mắt rõ ràng có tính lên án: Người mà dân Do thái kết tội tử hình lại được Thiên Chúa cho sống lại và nhân danh Người mà chúc phúc cho người bệnh, điều này rõ ràng cho thấy hành vi của dân là sai trái, chống lại đường lối của Thiên Chúa, hủy diệt nguồn phúc của chính mình.
Việc các tông đồ bị xét xử trước Thượng Hội Đồng là một phiên bản của vụ án Đức Giêsu trước đây: bị can lại trở thành chánh án, kẻ ngồi ghế xét xử lại trở thành tội nhân. Rõ ràng môn đệ cùng chung số phận như Thầy, tuy nhiên chính lúc ấy kẻ tin trở thành người xét xử thế gian; và những việc tốt mà tín hữu làm nhân danh Đấng Phục Sinh là bằng cớ kết tội thế gian cứng lòng.
Nhân danh Đức Giêsu người Nadaret: đây là ý chủ yếu trong đoạn văn này, được lập lại đến 3 lần dưới 3 dạng thức khác nhau hàm ý Đức Giêsu là Mêsia, là Thiên Chúa: (c.7)
- dưới dạng câu hỏi của Thượng Hội Đồng: “nhân danh ai mà các ông làm điều ấy?”. Đây là cái bẫy cho các tông đồ: các vị làm phép lạ nhân danh Đức Giêsu chứ không nhân danh Thiên Chúa, đồng thời còn muốn người ta tôn vinh Đức Giêsu như kupios nữa (2,36). Đây là tội đáng chết theo Đnl 13,2-6 (CGKPV Kinh Thánh T.Ư 2008 trang 477 nốt “g”); Thế nhưng đối với Luca, đây là cách để tôn vinh Đức Giêsu là Thiên Chúa, vì vậy mới có chi tiết đổi vai: bị can trở thành chánh án.
- dưới dạng câu trả lời khẳng định của Phêrô (c.10), tưởng rằng Phêrô lọt bẫy, hóa ra đó là dịp để lên án những sai lầm quá khứ của Thượng hội đồng lẫn dân Do Thái.
- dưới dạng lời tuyên xưng đức tin (12) qua đó tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa (sđd 477 nốt “l”).
2. Tuyên xưng Đấng Phục Sinh là cội nguồn ơn cứu độ (Cv 4, 11-12)
❖ Nền tảng Kinh Thánh: ý nghĩa của thập giá và Phục sinh đã được báo trước trong Kinh Thánh:
“tảng đá mà thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”
❖ Phêrô áp dụng vào cụ thể: “Tảng đá” là Đức Giêsu
“Thợ xây” là Thượng hội đồng và dân Do Thái: quý vị
❖ Tuyên tín: Duy chỉ Danh Đức Giêsu là cội nguồn ơn cứu độ cho toàn nhân loại
“Đá tảng góc tường” là tảng đá nền chịu góc của một tòa nhà. “ Đá đỉnh góc” là viên đá nối và giữ cho 2 phía kết thành vòm trong kiến trúc bằng đá. Khi nói Đức Giêsu là “đá tảng góc tường”, “đá tảng đỉnh góc” ý nói Người là nền tảng vững chắc, là điểm hoàn tất, hoàn chỉnh công trình xây dựng tòa Đền Thờ mới là Hội Thánh: 1Pr 2,4-8; Ep 2,20- 22 (sđd 477 nốt “k”). Bức tường Cựu Ước lẫn Bức tường Tân Ước, trong công trình xây dựng của Thiên Chúa, được xây cao lên chỉ đứng vững và liên kết bền chặt lại với nhau nhờ Đức Giêsu vừa là “ đá tảng góc tường”, vừa là “đá tảng đỉnh góc”.
Phêrô đã dùng câu Tv 118,22 ứng dụng vào cụ thể để loan báo Tin Mừng Phục Sinh, cho thấy đó là ý định từ muôn đời của Thiên Chúa đã từng được loan báo trước: “Tảng đá” ấy là Đức Giêsu, bị “thợ xây” là Thượng hội đồng và dân Do Thái “loại bỏ” tức giết chết bằng đóng đinh thập tự, “lại trở nên đá tảng góc tường” tức là được Thiên Chúa cho phục sinh trở thành nền tảng (đá góc tường) và sự hoàn chỉnh (đá đỉnh góc) của công trình xây dựng của Thiên Chúa.
Từ nền tảng Kinh Thánh ấy, Phêrô tuyên tín luôn Đức Giêsu là cội nguồn ơn cứu độ: dưới vòm trời này duy chỉ Danh Đức Giêsu là điểm tựa để chúng ta dựa vào đó mà được hưởng ơn cứu độ. Giêsu = “ Thiên Chúa cứu độ” (Mt 1,21). Với lời này Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu, Đấng đã chịu đóng đinh và giờ đây đã phục sinh chính là Thiên Chúa (sđd trang 477 nốt "l").
3. TÓM KẾT
Việc chữa lành anh què đã là dịp tốt để Phêrô và Gioan công bố Tin Mừng Phục Sinh và kêu mời sám hối tin vào Đức Giêsu. Sứ điệp này được đón nhận bằng 2 cách khác nhau: Đám đông đã tin và số người đón nhận Đức Giêsu lên tới 5.000 người chỉ tính số đàn ông. Trái lại các thủ lãnh Do Thái lại cứng lòng bắt bớ các tông đồ, điệu ra trước Thượng hội đồng, hạch sách nhân danh ai mà làm phép lạ dù rằng câu đáp đã được Phêrô nêu rõ (3,6b.16). Nhưng rồi Phêrô đã tận dụng điều bất lợi này để lại một lần nữa công bố Tin Mừng Phục Sinh; một lần nữa – lần này chủ yếu là cho các thủ lãnh – vạch ra cho dân Do Thái thấy cái sai của họ khi đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá. Lý chứng đưa ra cho thấy họ sai là Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết và bằng chứng trước mắt có thể kiểm chứng được là anh què đã đi được nhờ nhân danh Đức Giêsu chết và Phục Sinh.
Từ sự kiện cụ thể ấy, Phêrô công bố: “Giêsu” là danh duy nhất trên trần thế mà nhân loại mọi thời phải cậy dựa vào để được ơn cứu độ. Điều ấy đã được Thiên Chúa loan báo trước trong Cựu Ước, nay Người hoàn tất trong Đức Giêsu thập giá và phục sinh.
Trong tinh thần phụng vụ của lễ Chúa Chiên Lành, người mục tử phải hy sinh tất cả vì sự sống mạnh của chiên. Sức sống ấy là bằng mọi giá phải công bố Tin Mừng thập giá và phục sinh. Phải nhân danh Đấng Phục Sinh, bất chấp bách hại, để mang ơn chữa lành cứu độ cho nhân loại.
TIN MỪNG: Ga 10, 11-18
Văn mạch
Chương 10 của Tin Mừng thứ 4 mô tả những hoạt động cuối của Đức Giêsu vào dịp lễ Lều Do Thái (ch7-10):
- chương 7-8 diễn ra trong dịp lễ Lều với những nghi thức rước nước và ánh sáng. Ở đây Đức Giêsu tự xưng mình là nguồn mạch nước “ai khát hãy đến với Người” (7,38). Sau đó Người mặc khải mình là “ánh sáng trần gian (8,12).
- chương 9: chủ đề nước, ánh sáng được lập lại bằng một minh họa, phép lạ chữa lành một anh mù bẩm sinh. Anh được SÁNG mắt nhờ nghe lời Đức Giêsu đi rửa với NƯỚC ao Siloê.
- Chương 10 chuyển qua chủ đề khác: mục tử- chiên: Tuy nhiên vẫn nối kết với Lễ Lều bằng một yếu tố văn chương có liên quan đến phép lạ anh mù được sáng mắt (10,21).
- Phần còn lại của chương 10 gồm các câu 22-42 lại được đặt trong bối cảnh lễ Cung hiến đền thờ, trong phần này các câu 27-30 đề cập đến tương quan mục tử và chiên.
Tin Mừng Chúa nhật 4 mùa Phục Sinh luôn đề cập đến chủ đề “mục tử- chiên” trong Ga 10. Năm B là trích đoạn 10,11-18 nhấn mạnh khía cạnh Đức Giêsu là mục tử tốt lành sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên cũng như có sứ mạng quy tụ mọi chiên về một đàn chiên duy nhất. Đó là ý định Đức Giêsu đã nhận từ Cha.
CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH
1. Dung mạo người mục tử tốt (Ga 10,11-14a)
❖ Đức Giê su tự mạc khải Người là Mục Tử tốt (11a.14a)
❖ Mục tử tốt hy sinh tính mạng vì chiên (11b)
❖ Dung mạo phản diện: người làm thuê không phải là mục tử (12a)
- Chiên không thuộc về anh ta (12b)
- Phản ứng trước nguy hiểm: sói đến, bỏ chiên mà chạy (12c)
- Hậu quả: sói vồ chiên, đàn chiên tán loạn (12d)
- Vì anh ta là kẻ làm thuê, không thiết gì đến chiên (13)
Trong Kinh Thánh, hình ảnh “mục tử- đàn chiên” thường được dùng để diễn tả mối tương quan giữa Israel với Thiên Chúa, hoặc giữa dân và hàng lãnh đạo: vua, Tư tế, Ngôn sứ.
Trong dòng lịch sử, hàng lãnh đạo là những người được Chúa chọn để chăm sóc cho dân là đoàn chiên của Người. Lẽ ra họ phải chu toàn trách vụ đối với chiên theo như Ý Chúa; nhưng thực tế, lắm phen họ đã lợi dụng quyền thế để bóc lột chiên, làm chiên tan tác. Đó là các mục tử bất lương, bị biến chất thành kẻ chăn thuê. Dung mạo của họ đã được Cựu Ước mô tả:
• Họ không tìm kiếm Yavê, phản loạn chống lại Người (Gr 2,8; 10,21)
• Bỏ bê đàn chiên, chỉ lo phần lợi cho mình (Ed 34,3), chiên bị tán loạn, làm mồi cho dã thú (Ed 34,2-3; Gr 23,1-8).
• Họ thống trị chiên bằng vũ lực (Ed 34,4b)
Những nét ấy được Tin Mừng thứ 4 tóm lại trong 10,12-13. Dĩ nhiên Thiên Chúa sẽ trị tội họ và lấy lại đàn chiên. Người sẽ đích thân chăm sóc chiên (Ed 34,11) gởi đến cho chiên Vị mục tử tốt (Ed 34,23).
Đó là hai biện pháp Yavê đưa ra để hồi phục và làm đàn chiên phát triển. Chính trogn Đức Giêsu mà biện pháp kép ấy của Ya vê được hoàn tất mỹ mãn.
Chính tôi là Người Mục Tử tốt: “Ta là”= êgô êimi là hình thức hi lạp diễn tả tên của Yavê đã được mạc khải cho Môsê nơi Bụi Gai. Đặt chi tiết trên vào tổng thể của Tin Mừng thứ 4: Tin mừng 4 mở đầu bằng bài tự giới thiệu Đức Giêsu chính là Thiên Chúa Ngôi Lời nhập thể; và kết thúc bằng lời tuyên xưng thần tính của Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” do Tôma cứng tin thốt ra. Vậy bản văn muốn nói Đức Giêsu chính là CHÚA Mục Tử tốt. Nơi Người, Thiên Chúa thực hiện lời hứa, đích thân Thiên Chúa đến chăm sóc, kiểm điểm đàn chiên (Ed 34,11-12).
“TA LÀ”: động từ luôn ở thì hiện tại hàm ý hôm qua, hôm nay và ngày mai THIÊN CHÚA ĐÃ LÀ, ĐANG LÀ và MÃI MÃI LÀ mục tử tốt của đàn chiên Chúa. Vấn đề còn lại là Thiên Chúa thực hiện trong cụ thể vai trò mục tử tốt như thế nào? Đó là cho Ngôi Lời làm người trong thân phận con người Giêsu, đến độ hy sinh mạng sống vì đàn chiên.
Hy sinh mạng sống vì đàn chiên: nét này được Tin Mừng 4 đặt lên hàng đầu để mô tả mục tử TỐT. Điều này hoàn toàn ngược với lý lẽ thường tình: nuôi dưỡng chiên mà không lấy một chút lợi lộc nào từ chiên như sữa, lông len, thịt...trái lại còn thí mạng vì chiên. Trong thực tế không mục tử nào, dù tốt với chiên đến đâu đi nữa lại làm việc “đổi chác” quá bất bình đẳng này: đổi mạng ông chủ để cứu con chiên. Thế nhưng đây là nét độc đáo, “điên rồ” của Thiên Chúa: “để cứu tôi tớ, Chúa đã nộp chính con yêu” (Exultet). Vậy TỐT ở đây không phải là một giá trị luân lý, xã hội mà là THUỘC TÍNH của Thiên Chúa (x. Lc 18,18-19). Do đó khi Đức Giêsu biểu lộ công khai Người là Mục Tử tốt qua việc hy sinh mạng sống vì đàn chiên trên thập giá thì lúc đó thiên tính của Người được tỏ lộ trọn vẹn: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết TA LÀ” (Ga 8,28 a); “Viên đại đội trưởng... thấy Người tắt thở như vậy liền nói: quả thật con người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).
Áp dụng cho các mục tử kế vị Đức Giêsu: trong Kinh Thánh, “tốt” là phù hợp với Thánh Ý Chúa, mọi sự diễn ra đúng như lệnh Người truyền: “Thiên Chúa phán: hãy có và liền có như thế..... Thiên Chúa thấy tốt lành...” Vậy “tốt” là càng ngày càng nên giống Đức Giêsu, nghĩa là đồng hình đồng dạng với Người; nói cách khác theo sách Sáng thế chúng ta là “hình ảnh của Thiên Chúa”, là một tạo vật được sinh động nhờ “hơi thở” của Thiên Chúa.
Vậy mỗi người chúng ta đều phải là vừa chiên ngoan vừa mục tử tốt bằng cách dám bỏ tất cả mà THEO ĐỨC GIÊSU, tùy theo ơn gọi Chúa ban cho mỗi người. Ơn gọi là bất biến, nhưng chúng ta phải khám phá và sống cho phù hợp từng ngày: Thiên Chúa luôn là hiện tại.
2) Mối liên hệ hỗ tương: Cha - Mục Tử - Chiên (Ga 10, 14b-18)
* Mục tử và chiên: BIẾT nhau (14 b) theo kiểu mẫu Cha và ÐGS biết nhau (15a)
* Hoa trái: Đức Giêsu hy sinh mạng sống vì chiên (15b)
* Đối với những chiên không thuộc về ràn (đây là 1 thực tế)
- thao thức đưa chúng về
- mối tương quan: NGHE tiếng tôi
- Hoa trái: chỉ có 1 đàn chiên, 1 mục tử (16)
* Phương thức để tạo nên mối liên hệ hỗ tương nói trên:
- Mục Tử Giêsu tự nguyện hy sinh mạng sống vì chiên và sẽ lấy lại
- Trong tương quan với Cha: đó là lệnh Cha, Con tuân hành.
- Hoa trái: Cha yêu Con và hàm ý việc Con lấy lại mạng sống là hoa trái của tình Cha Yêu Con.
Mối liên hệ cơ bản giữa Cha - Mục Tử - Chiên là BIẾT nhau. “theo Kinh Thánh... sự nhận biết vượt quá tri thức trừu tượng và diễn tả 1 liên hệ hiện sinh: biết 1 cái gì chính là có kinh nghiệm cụ thể về cái đó; ...(đó là) một dấn thân thật mà những âm hưởng, hậu quả của sự dấn thân đó thì sâu xa. Biết một ai đó chính là đi vào trong những tương quan biệt vị với người đó; và vì những tương quan ấy có thể mang lấy nhiều hình thức và bao hàm rất nhiều cấp độ, do đó biết có thể bao gồm toàn bộ một chuỗi những ý nghĩa. Và sự hiểu biết ấy phải biến thành hành động cụ thể sao cho hai người BIẾT nhau sẽ phải hài hòa nên một với nhau như Cha và Đức Giêsu biết và nên một với nhau.
Cụ thể phần Thiên Chúa, Người quá biết con người là yếu hèn, tội lỗi dễ chiều theo sự tội... nên Thiên Chúa đã có phương thế thích hợp là yêu con người bằng một tình yêu vô vị lợi, sẵn sàng cho Con Một mình mang phận phàm nhân đến đồng hành với con người đến tận cùng của kiếp người tội lỗi là cái chết thập giá. Phần Đức Giêsu, Người cũng quá biết đàn chiên của mình như Cha biết và Người cũng quá biết ý Cha nên cái chết của Đức Giêsu biến thành hành động cụ thể mang xác phàm thi hành ý Cha, làm người Mục Tử nhân lành tự nguyện thí mạng vì đàn chiên; Và Cha cũng biết Con làm vậy là vì yêu Cha, tuân lệnh Cha nên đã cho Đức Giêsu phục sinh. Phần đàn chiên, tự mình không thể biết Cha và Con, thêm nữa thân phận yếu hèn luôn hướng vể sự tội, do đó cần mặc khải của Thiên Chúa để biết Cha và Con cũng như biết thánh ý của Người đối với mình; Và một khi đã biết thì phải biểu lộ ra trong cuộc sống thực hằng ngày, nghĩa là phải NGHE và BIỆN PHÂN được tiếng của Đức Giêsu để ở lại trong đàn chiên của Người, dù chung quanh là những tiếng kêu mời quyến rũ.
Tôi còn có những chiên khác...: Đức Giêsu không chỉ là mục tử tốt của đàn chiên Israel, cái nhìn của Người còn hướng ra cho toàn thể nhân loại: cái nhìn truyền giáo, hướng về tương lai. Toàn thế giới phải được quy tụ về trong một đàn chiên duy nhất, dưới quyền một chủ chăn duy nhất.
Chúng sẽ NGHE tiếng tôi: để các chiên khác thuộc về đàn của Đức Giêsu cần một điều kiện: chúng phải NGHE tiếng Đức Giêsu. Động từ “NGHE” ở thì tương lai. Nhân loại thì đông, cuộc đời trần thế của Đức Giêsu là giới hạn. Vậy ở đây Tin Mừng thứ tư đã mở ra sứ vụ truyền giáo: chính nhờ lời rao giảng tông truyền của đoàn môn đệ mọi thời mà những con chiên chưa thuộc về đàn NGHE được tiếng của Mục Tử Giêsu. Làm sao Đức Giêsu lịch sử lại làm được công việc xuyên thời gian ấy? Vì Người chính là Thiên Chúa, được biểu lộ qua cách nói ở cc. 17-18.
Tôi hy sinh mạng sống để rồi lấy lại... Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại... Rõ ràng bản văn nói đến thập giá và phục sinh của Đức Giêsu. Tuy nhiên ở đây nhấn mạnh đến sự tự nguyện hy sinh và quyền năng của Đức Giêsu tự mình sống lại. Cách nói hàm ý Người là chủ cả sự chết lẫn sự sống. Người chính là Thiên Chúa.
3) TÓM KẾT
Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta dung mạo của người mục tử tốt: hy sinh tính mạng vì đàn chiên; biết rõ từng con chiên và được chiên nhận biết; thao thức hiệp nhất mọi con chiên vào một đàn duy nhất. Người mục tử tốt đó chính là Đức Giêsu. Người chính là “Yavê - Mục Tử”, là Mêsia- Mục Tử mà Êdekiel đã loan báo. Ngang qua hình ảnh tự hiến mạng sống và lấy lại, Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu chính là Thiên Chúa, vị Thiên Chúa làm người để thi hành mệnh lệnh Cha. Con đường hy sinh mạng sống (thập giá) và lấy lại (phục sinh) vốn là ý định từ muôn đời của Cha nay được Đức Giêsu đến thực hiện nhờ đó Người quy tụ, cứu sống đàn chiên nên một dưới quyền một chủ chăn.
Pet. Đình Long, FSC