Hoán cải, làm theo ý Chúa trong phút giây hiện tại - Chúa Nhật 26 Thường Niên Năm A

CHÚA NHẬT XXVI A THƯỜNG NIÊN
Ed 18,25-28; Mt 21,28-32
Chủ đề: Yếu tố quyết định vận mạng một con người: hoán cải, làm theo ý Chúa trong phút giây hiện tại
* Ed 18,27: Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm mà thi hành điều chính trực công minh thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.
* Mt 21,29-31: Nó hối hận, nên lại đi làm ý Cha…Những người thu thuế và các cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.
Lời Chúa của Chúa Nhật XXVI A tiếp tục mời gọi chúng ta khám phá thêm sự khác biệt được nhấn mạnh hôm nay là sự PHÁN ĐOÁN, ĐÁNH GIÁ về luân lý đạo đức trước một sự việc, một thực tế đã xảy ra và những hậu quả mà cách chung là con người có thể đoán định được.
Sự khác biệt không nằm chủ yếu ở SỰ KIỆN, bởi vì trên lý luận, con người lẫn Thiên Chúa đều nhất trí là có công thì được thưởng và có tội thì phải xét phạt. Thế nhưng vấn đề là dựa trên chuẩn mực nào để đánh giá công tội?
Con người thường dựa trên những gì đã xảy ra và nghe thấy được; Như vậy là dựa trên những sự việc quá khứ mà chính mình đã biết và nhận định được; Còn những gì đang diễn ra hoặc đang dự tính thì nằm ngoài tầm lượng giá, kiểm soát của con người. Những biến cố, hoán cải, những động cơ thúc đẩy hành động thì mắt phàm lại càng khó nhận ra.
Phần Thiên Chúa, Người luôn muốn cho con người được sống và Người luôn là hiện tại, nên Người chú tâm hơn đến cái biến đổi, đến cái đích mà con người đang muốn hướng về. Chính cái tương quan, cái hoán cải đang có đối với điều thiện (hay ác) ngay trong phút giây hiện tại mới là yếu tố quyết định để luận tội định công.
Trong bài đọc một, Edêkien thuật lại cuộc đối thoại giữa dân Israel với Thiên Chúa: dân trách “đường lối Chúa Thượng không ngay thẳng” vì Chúa ân thưởng kẻ gian ác và trách phạt người công chính. Dân trách Chúa vì họ cho rằng cảnh lưu đày họ đang chịu là hậu quả của tội lỗi thế hệ cha ông. Họ chất vấn Chúa: tại sao cha ông họ ăn nho xanh mà họ phải ê răng? (Ed 18,2).
Quá khứ thì không thể xóa bỏ hay thay đổi được! Điều họ đòi hỏi Chúa là phải ngay lập tức cất khỏi họ các tai ương vốn không là do lỗi của họ trong quá khứ. Đó là đường lối của Dân. Êdêkien theo lệnh Chúa, tới đề nghị cho Dân một lối giải quyết khác, dựa trên hai nguyên tắc: một cũ, một mới.
- Cái cũ là nguyên tắc LIÊN ĐỚI của thân phận làm người vẫn còn: sai phạm của cá nhân lắm khi cộng đoàn phải lãnh HẬU QUẢ.
- Cái mới là nguyên tắc TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN: tội của ai thì người đó chịu ÁN PHẠT; công của ai thì người ấy hưởng PHẦN THƯỞNG.
Và yếu tố quyết định vận mạng THƯỞNG hay PHẠT là VIỆC LÀM TRONG HIỆN TẠI chứ không dựa vào những gì đã làm trong quá khứ (Ed 18, 26-28).
Vậy sứ điệp ẩn trong bài đọc một là: hãy can đảm chấp nhận HẬU QUẢ của quá khứ, đồng thời cố gắng sống công chính trong hiện tại trong niềm trông cậy rằng thái độ công chính của cá nhân trong hiện tại có thể hóa giải những hậu quả xấu của quá khứ và mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Bước sang đoạn Tin Mừng, bài dụ ngôn là một minh họa cho sứ điệp của bài đọc một: ĐỨC GIÊSU phân tích thái độ của hai người con trước lệnh truyền của Cha. Cha sai hai con đi làm vườn nho cho ông: - Đứa thứ nhất ban đầu chống lại lệnh Cha: “con không muốn” nhưng sau đó hối hận và đi làm. - Đứa thứ hai, trước lệnh Cha đã xin vâng rất lễ phép, nghi thức: “thưa ngài, con đây”, thế nhưng rồi lại bỏ ngoài tai lệnh Cha. Từ đó, ĐỨC GIÊSU đưa ra hai kết luận:
1/ Vâng lời không chủ yếu dựa trên lời nói, mà trên hành động; không dựa trên những gì xảy ra trong quá khứ mà TRONG HIỆN TẠI.
2/ Và kết luận ứng dụng nhằm cảnh cáo các thượng tế và kỳ mục: những người thu thuế và gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước họ. Lý do: vì trong HIỆN TẠI, các thu thuế và gái điếm đã bỏ quá khứ tội lỗi, TIN vào sứ điệp của Gioan Tẩy Giả và hoán cải. Cánh cửa cứu độ vẫn còn mở ra cho các thượng tế và kỳ mục: họ chỉ vào SAU thôi với điều kiện là HOÁN CẢI.
Thực ra, Thiên Chúa lẫn con người đều muốn nhân loại được cứu độ. Nhưng ơn cứu độ là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, từ Thiên Chúa mà đến. Vậy hãy hoán cải, mở rộng lòng đón nhận ĐƯỜNG LỐI của Thiên Chúa và sẵn sàng cộng tác cùng Thiên Chúa hoàn tất dự tính của Người trên cá nhân ta và trên mọi người.
SUY NIỆM MÙA THƯỜNG NIÊN 26A
Ed 18.25-28
Mt 21, 28-32
Người Cha sai 2 con của mình đi làm vườn nho. Đứa thứ nhất đáp: “Con không muốn đâu”, nhưng sau đó, nó hối hận nên lại đi…Đứa thứ hai đáp: “ Thưa ngài, con đây!” nhưng rồi lại không đi…Ai đã thi hành ý muốn của người cha?
Lời Chúa tuần này tiếp tục chủ đề tuần trước: đường lối, cách ứng xử lạ lùng của Thiên Chúa trước những hành vi, việc làm của con người. Chi tiết mà Lời Chúa hôm nay muốn nhấn mạnh là yếu tố nào mà Thiên Chúa đã đưa ra để đánh giá những việc làm, lối ứng xử của một con người? Đó là tình trạng của người đó ở thời điểm HIỆN TẠI trong mối tương quan với Thiên Chúa. Tình trạng đó, mối tương quan đó được biểu lộ ra việc làm mà ngôn ngữ luân lý gọi là “làm điều bất chính” (Ed 18, 26) hoặc là “thi hành điều chính trực công minh” (18, 27). Thiên Chúa xét xử mọi sự theo chuẩn mực là chính Người và dựa trên những gì mà con người đang làm trong hiện tại với một tâm tình đạo đức tương ứng.
Tâm tình, lối ứng xử, những hành động cụ thể TRONG THỜI ĐIỂM HIỆN TẠI của mỗi người chính là yếu tố quyết định vận mạng của một cá nhân. Thật vậy, Thiên Chúa chỉ có một đức tính duy nhất, đó là muốn thông chia sự hiện hữu, sự sống, hạnh phúc của Người cho kẻ khác và Người đã thực hiện điều đó trong công trình sáng tạo: mọi sự Chúa dựng nên đều xuất hiện và vận hành theo đúng ý Chúa nên tất cả đều “TỐT” và nhất là con người thì “RẤT TỐT” (St 1, 31). “Tốt đẹp” có nghĩa là phù hợp với ý của Thiên Chúa, thích hợp với mục tiêu Người nhắm tới (x. CGKPV – Ngũ Thư – 1999 trang 35 nốt “o”). Và Thiên Chúa là Đấng Hằng Hữu (x. Xh 3, 14; Kh 1, 8) nghĩa thường hằng bất biến, trước sau như một (Is 44, 4; Kh 22, 13) không bao giờ thay đổi dự tính của mình. Và trong tình cảnh trật tự, hài hòa đó, mọi loài đều hạnh phúc, thụ hưởng tròn đầy ân huệ Thiên Chúa.
Thế nhưng, với tự do được Chúa thương ban, con người đã lạm dụng để khước từ tình yêu Thiên Chúa, bước đi ra khỏi đường lối của Người.
Hậu quả là đổ vỡ, bất hạnh đã xuất hiện, xâm nhập vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Con người sợ hãi, trốn tránh Thiên Chúa, bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng sống xa Tình Yêu Quan Phòng che chở của Thiên Chúa. Nguy cơ dẫn tới diệt vong là không tránh khỏi. Thiên Chúa không bỏ cuộc, Người tiếp tục thực hiện dự tính của Người. Phương thức là tha thứ, mời con người từng bước hoán cải và chóp đỉnh là sai Con Một Người giáng trần hướng dẫn giúp con người nhận ra và trở về với đường lối của Chúa. Chỉ cần một phút giây hoán cải, về với Chúa thì Chúa sẽ nắm bắt lấy ngay và thông ban ơn cứu độ.
Tuy nhiên con người có tự do. Bản tính con người lại hay đổi thay, trồi sụt, nóng lạnh thất thường. Do đó, chuyện có thể có là trong phút giây hiện tại, con người lại quay về đường lối tội lỗi, khước từ, trốn tránh Thiên Chúa… thì họ lại rơi vào tình trạng xa cách Thiên Chúa, vắng bóng Người và bất hạnh, dầu trước đó họ vẫn đã sống trong tình nghĩa với Chúa. Từ sự mất mát đó, thay vì nhận ra lầm lỗi của mình rồi hoán cải, họ lại đâm ra trách móc Thiên Chúa. Lời Chúa hôm nay đưa ra một lời đáp: tiêu chuẩn xét xử là lối sống mỗi người TRONG HIỆN TẠI.
Bài 1, dân trách đường lối Chúa không ngay thẳng vì thưởng kẻ ác, phạt người công chính. Chúa đáp: kẻ công chính chết vì đã bỏ đường công chính mà làm điều bất chính trong hiện tại; còn kẻ ác được sống là vì hiện tại nó bỏ đường ác mà sống theo lẽ công minh.
Tin Mừng: trong bối cảnh những cuộc tranh luận cuối cùng của Đức Giêsu với các thủ lãnh Do Thái, ngay tại trung tâm tôn giáo Giêrusalem, Đức Giêsu đã kể ra dụ ngôn hai người con để giải thích cho họ về nguồn gốc của quyền bính của Người và về hành động lạ lùng của Người. Kẻ làm ý Cha không phải không phải là kẻ nói lời xin vâng, rồi sau đó phớt lờ lệnh Cha; chính kẻ lúc đầu nói lời chống đối, nhưng HỐI HẬN làm theo lệnh Cha mới là kẻ tuân ý Cha. Từ đó Đức Giêsu kết luận: nếu thấy những kẻ bị coi là tội lỗi mà lại ân thưởng Nước Thiên Chúa, trong khi những kẻ trước giờ vẫn được coi là công chính lại bị đối xử tệ hơn thì đừng ngạc nhiên về đường lối Thiên Chúa.
Từ chủ điểm trên, một hệ luận kéo theo: con người phải hoán cải, thay đổi lối sống cho phù hợp với đường lối Chúa. Chính lối sống trong hiện tại quyết định vận mạng đời đời của mình. Bài 1 nhấn mạnh khía cạnh luân lý, giao ước; bỏ dữ làm lành; còn Tin Mừng nhấn vào tương quan với mặc khải thần linh: TIN.
BÀI ĐỌC I: Ed 18, 25-28
Ed 4-25 hầu như gồm toàn những lời trách cứ và đe dọa Israel được tuyên sấm giữa những năm 597-587. Edêkien cũng bị lưu đày Babylon cùng với nhóm của vua Giơhôgiakhin (2V 24, 12). Hai cái nhìn lệch lạc lớn nơi dân cần được điều chỉnh:
* Trong đất lưu đày giai đoạn 597-587, dân vẫn ảo tưởng là Thiên Chúa phải bảo vệ Giêrusalem bằng mọi giá, bất chấp lối sống của dân. Edêkien ở Babylon và Giêrêmia ở Giuđa cực lực phản đối nhãn giới lệch lạc này và loan báo Giêrusalem sẽ bị tàn phá nếu dân không hoán cải. Bằng một dụ ngôn, Edêkien 17 mô tả số phận đen tối của Giêrusalem (CGKPV – “các sách Ngôn Sứ” trang 489 các nốt “b-d").
* Điều lệch lạc thứ 2 là dân trách Chúa đã phạt họ vì tội lỗi của cha ông họ: “đời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng” (18,2). Sứ mạng của Edêkien là điều chỉnh lại, làm sáng tỏ giáo lý về thưởng phạt: tội của ai người ấy chịu (18, 1-20); Và mỗi người chịu xét xử theo lối sống trong hiện tại chứ không dựa theo quá khứ (18, 21-29); Do đó, điều quan trọng là bây giờ phải sám hối (18, 30-32) (x. CGKPV – Sđd 429 n).
Bài đọc 1 là lời đáp của Thiên Chúa trước lời chỉ trích của dân “đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng” (18, 25). Bài 1 nhấn mạnh tới yếu tố quyết liệt để định đoạt số phận một người chính là lối sống trong hiện tại.
CẤU TRÚC Ed 18, 25-28
và SUY NIỆM
1/ Lời Israel kêu trách Thiên Chúa (18, 25a)
* “Đường lối Chúa Thượng không ngay thẳng”
Lời trách dựa trên các lập luận:
1. Cái nhìn luân lý của Israel trong tương quan với trách nhiệm tập thể và cá nhân. Não trạng chung của người Israel trươc lưu đày là nguyên tắc liên đới: mọi người trong tập thể đều có trách nhiệm liên đới với điều lành hay điều ác của cá nhân trong tập thể đó (x. St 18; Gr 31, 29; Gs 7, 1-26). Nhưng tới thời Edêkien thì tội của dân quá lớn nên không công nghiệp của ai có thể khỏa lấp tội dân được: ai công chính chỉ có thể cứu được mạng mình thôi (x. Ed 14, 12-20 và nốt “n” CGKPV).
Từ quan điểm liên đới trách nhiệm trên, dân Israel thời của Edêkien cho rằng hình phạt lưu đày họ đang chịu là do lỗi của cha ông họ (các ngôn sứ thời trước: Mk 3, 9-12; 4, 9-10a; Kb 1, 5-11; 2,6-20; Xp 1, 4-6; Gr 16, 11-13.16-18… đã loan báo lưu đày cho các thế hệ tiền bối), nhưng tiền nhân tội lỗi thì lại chết an ổn trong xứ, còn dân hiện tại phải mang hậu quả của tiền nhân (Ac 5,7). Do đó họ trách Thiên Chúa.
Êdêkien được sai đến ( trước đó Gr 16,12; 31,30 cũng có đề cập tới) làm sáng tỏ giáo lý về thưởng phạt: Thiên Chúa công chính và người trả cho ai nấy xứng việc họ làm. Tuy nhiên trong thực tế cần lưu ý : Chúa không phạt tập thể vì tội cá nhân, nhưng hậu quả của tội cá nhân lắm phen cả cộng đoàn phải gánh chịu. Do đó “hai nguyên tắc trách nhiệm liên đới và trách nhiệm cá nhân không loại trừ nhau, như ta thấy trong bài ca 4 của người tôi trung (Is 52,13-53,12). Nhưng đàng khác khi áp dụng triệt để vào thực tại hoàn toàn trần gian, 2 nguyên tắc đó còn tỏ ra mâu thuẫn (trường hợp Gióp). Vì thế còn cần phải bổ túc bằng quan niệm thưởng phạt đời sau (CGKPV Sđd trang 480 nốt “n”)
2. Lời đáp trả của Thiên Chúa (18,25b-28)
♦ Lời chất vấn ngược lại của Thiên Chúa: đường lối ai không ngay thẳng?
♦ Lời giải thích của Thiên Chúa:
- phân biệt điều đã làm (quá khứ) với việc đang làm (hiện tại)
- tiêu chuẩn xét đoán của Thiên Chúa dựa vào hiện tại
Lời chất vấn của Thiên Chúa hàm ý mời dân phải hoán cải. Vì chưa có mạc khải về đời sau nên dân lẫn lộn giữa án phạt của tội và hậu quả của tội: Trên trần thế này, tội của một người, của cha ông có thể để lại hậu quả cho kẻ khác, con cái; tuy nhiên án phạt đích thực của tội chỉ đổ trên chính mình tội nhân. Án phạt của tội là sự chết vĩnh viễn, còn hậu quả là những bất hạnh ở đời này. Vậy ở mức độ mạc khải chung, đoạn văn mời hoán cải, nhìn việc thưởng phạt theo nhãn giới mới theo lời giải thích của Thiên Chúa.
Tuy nhiên trong cụ thể: việc dân bị phạt không phải là lỗi của chỉ cha ông mà còn là lỗi của chính họ, hãy nhận ra cái sai của mình và sám hối thì mới được cứu. Cụ thể là dân đang lưu đày đợt 597 cứ cho rằng bằng mọi giá Thiên Chúa phải đưa về Giêrusalem bất chấp hạnh kiểm của họ, Chúa phải bảo vệ đền thờ vì đó là nơi Chúa ngự.
Và khi lưu đày đã lâu mà Thiên Chúa im tiếng thì dân lại rơi vào cái sai khác: tuyệt vong, Chúa bỏ dân, Chúa bất lực.
Vậy hãy bỏ cái nhìn sai lạc của mình đi và mặc lấy cái nhìn mới của Thiên Chúa: Kẻ ác hãy từ bỏ lối sống gian tà, quay về đường công chính sẽ được sống, kẻ công chính hãy cứ tiếp tục đường lối của mình, đừng buông xuôi đi vào sai trái.
Điều cần lưu ý: bản văn nhấn tới “đường lối” hơn là một hành động đơn lẻ.
Đây là một lẽ sống đã được chọn lựa có ý thức cho cả quãng đời còn lại, đây là một động lực thâm sâu của mọi hành động, là tầm nhìn hướng dẫn mọi kế hoạch, việc làm, trách nhiệm luân lý của một cá nhân. Trong những thời điểm phải có quyết định chung cuộc (cái chết chẳng hạn) mà cá nhân cứ lì trong đường lối mình thì số phận của mình tùy vào chọn lựa ấy. Còn các hành động luân lý vào từng thời điểm thì có thể thay đổi và đó không phải là cái yếu tố quyết liệt để đoán định số phận một người. vậy chính tình trạng chọn lựa nội tâm chứ không phải những việc làm đơn lẻ làm nghiêng cán cân của Thiên Chúa.
3. TÓM KẾT
Tầm nhìn của con người bị giới hạn trong những việc làm đơn lẻ hiện ra trước mắt, trong khi đó tầm nhìn của Thiên Chúa hướng tới sự sống thần linh vĩnh cửu mà Người muốn thông ban cho toàn thể nhận loại và Người tìm đủ mọi cách để thực thi dự định ấy. Vì thế, thường khi đối đầu với nghịch cảnh, con người - ở đây cụ thể là dân Do Thái đang lưu đày – thường hay nặng lời kêu trách Chúa, đổ lỗi cho kẻ khác, cho thời cuộc, cho rằng Chúa bất công, còn ta là vô tội, là nạn nhân. Lời Chúa hôm nay mời gọi nhân loại, qua dân Do Thái lưu đày, tiến sâu thêm bước nữa vào trong mặc khải thần linh: mặc dù con người vẫn phải liên đới với nhau trong dòng lịch sử, trong những hậu quả chung của loài thọ tạo thì số phận đích thực, vĩnh cửu của từng người tùy thuộc vào tình trạng nội tâm trong hiện tại mà họ chọn để hiện diện sống trước Thiên Chúa.
Đây là một chọn lựa liên quan đến cả cuộc đời hơn là một hành vi nhất thời đơn lẻ. Và để đón nhận được đường lối của Thiên Chúa, cần hoán cải, chỉnh sửa đường lối mình sao cho phù hợp với đường lối của Thiên Chúa ngay trong hiện tại.
TIN MỪNG: Mt 21, 28-32
Đức Giêsu đã vào Giêrusalem! Dân chúng đã đón rước và tung hô Người như Đấng Mêsia (21, 1-11). Tiếp đó Mattheu thuật lại một số hoạt động của Người tại Thánh Đô:
- Trước tiên là thanh tẩy Đền Thờ, trong tư cách là Mêsia, Người hoàn trả lại cho Đền Thờ ý nghĩa, vị trí đích thực của nó (21,12-17);
- Qua lời nguyền rủa khiến cho cây vả, bề ngoài sum suê nhưng không ra trái, đã phải chết khô (cây vả không có trái biểu tượng cho Israel cứng lòng), Đức Giêsu dạy cho các môn đệ bài học về sức mạnh của đức tin (21, 18-22).
Hai việc làm đầy ngụ ý trên gặp phải sự chống đối của các thủ lãnh Do thái:
- Nhóm Thượng tế và kỳ mục khai mào các chống đối. Họ vào hỏi Đức Giêsu dựa vào quyền bính nào mà dám hành động như vậy. Thấy họ không thành tâm, Đức Giêsu từ chối trả lời trực tiếp (21, 23-27);
Bù lại bằng một loạt ba dụ ngôn, Đức Giêsu muốn tỉnh thức họ, giúp họ khám phá ra tình trạng đích thực của họ trong hiện tại tương quan với ơn cứu độ Chúa tặng ban:
1. Dụ ngôn hai người con (21,28-32)
2. Những tá điền sát nhân (21,33-46)
3. Tiệc cưới: nhấn mạnh đến thái độ đáp trả cũng như số phận tương xứng của những khách được mời (22,1-14).
- Tiếp đến, nhóm Biệt Phái vào cuộc: Họ phối hợp với nhóm Hêrôđê gài bẫy Đức Giêsu qua một vấn nạn tế nhị trộn lẫn hai lãnh vực chính trị và tôn giáo qua câu hỏi “có nên nộp thuế cho César hay không?” (22,15-22).
- Rồi bè Xađốc đặt ra cái bẫy về “kẻ chết sống lại” (22, 34-40).
Cuộc tranh luận tạm kết thúc với vấn nạn Đức Giêsu đặt ra về mối tương quan biện chứng giữa Đấng Mêsia với vua Đavit: Đấng Kitô là “con” hay là “chúa” của vua Đavit? Họ không trả lời được và “không ai dám chất vấn Người nữa” (22,41-45).
Đức Giêsu chỉnh sửa mọi thành phần dân Chúa. Riêng đối với đám đông dân chúng, Người giúp dân phân biệt rạch ròi điều này: mặc dù lối sống các thủ lãnh bất xứng, nhưng họ đã được Thiên Chúa trao quyền giảng dạy luật Chúa nên phải nghe theo giáo huấn của họ và đem ra thực hành, chỉ đừng bắt chước cách ứng xử của họ thôi (23, 1- 12).
Phần chỉnh sửa kết thúc bằng lời khiển trách các thủ lãnh và thương khóc thành Giêrusalem cứng lòng (23, 13-39).
Tin Mừng hôm nay là dụ ngôn 1 trong phần Đức Giêsu trả lời cho nhóm Thượng Tế và kỳ mục khi bị họ chất vấn về cội nguồn quyền bính của Người. Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi, Đức Giêsu vạch ra cho họ thấy những sai trái của họ. Dụ ngôn này hàm ý: để có thể nhận ra được cội nguồn quyền bính của Người, họ phải HỐI HẬN nghĩa là nhìn lại quá khứ và nhận ra mình đã phạm một sai lỗi; Từ đó lương tâm cắn rứt, ăn năn quyết tâm sửa lại lỗi lầm và tìm mọi cách khắc phục hậu quả và bước theo một hướng sống mới. Thật ra Đức Giêsu mời họ tỉnh ngộ lương tâm qua những dụ ngôn và khơi gợi ánh sáng giúp họ tự tìm ra câu trả lời. Dụ ngôn này xoáy sâu vào một điểm yếu trong cách sống đức tin của họ. Người Do Thái luôn hãnh diện vì họ là dân riêng của Chúa, dân khôn Ngoan vì được Chúa ban cho Lề Luật và Thánh Chỉ (x. Đnl 4, 5-8); Thế nhưng họ lại quên mất sứ mạng “anh em phải giữ luật và đem ra thực hành (x. Đnl 4,6. 40). Sai lỗi của họ ngày càng trầm trọng đến độ Thiên Chúa phải nặng lời: “dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta…” (x. Is 29,13; Mc 7, 6b-7). Đức Giêsu đã cố gắng thức tỉnh lương tâm của họ, giúp họ điều chỉnh lại các sai trái. Tiếc thay họ chỉ nhận ra được sai lỗi trên lý thuyết, còn “hối hận” thì không. Do đó sứ điệp cứu độ do Đức Giêsu mang tới không có chỗ trong lương tâm họ.
Người kia có hai con….điểm đáng lưu ý: ở đây dụ ngôn chỉ lưu ý đến tính cách là CON của hai đứa con. Bản văn chẳng bận tâm đến vấn đề con thứ hay con trưởng.
CẤU TRÚC Mt 21, 28-32
và SUY NIỆM
1. Bài dụ ngôn (21, 28-31a)
♦ Công thức dẫn nhập vào một dụ ngôn “Đối với các ông điều sắp kể giống cái gì?”
♦ Đối tượng: thượng tế và kỳ mục (x. 18,12)
♦ Nội dung:
-Lệnh sai hai con “này con ,HÔM NAY, hãy đi làm vườn nho”
-Phản ứng đứa thứ nhất: nói “không muốn”
nhưng sau đó, HỐI HẬN, đi làm
-Đứa thứ 2: nói “ thưa NGÀI, con đây”
nhưng rồi không làm.
♦ Giêsu dẫn đối tượng đi vào thâm ý của Người: “trong 2 đứa con, ai làm ý Cha?”. Họ đáp: “Người thứ nhất”.
Nó, tức điều sắp kể, giống như cái gì, đối với các ông, cũng như 18, 12, Đức Giêsu thay vì trả lời trực tiếp vấn nạn bằng một câu đáp với những khái niệm trừu tượng, Người kể một dụ ngôn, mời đối tượng suy nghĩ, rồi từng bước giúp họ tìm ra câu đáp.
“Người kia có 2 con”... “Này con...” Điểm đáng lưu ý ở đây: Cả hai đều là con. Bản văn chẳng lưu tâm đến vấn đề con thứ hay con trưởng (so Lc 15, 12.25), cũng chẳng bận tâm đến tình trạng luân lý xã hội (biệt phái/ thu thuế/gái điếm...), cũng không kỳ thị tôn giáo (dân Do Thái/ dân ngoại), lẫn địa vị xã hội (con cái/ quản gia/tôi tớ)...Hai đứa được sai đi trong TƯ CÁCH LÀ CON. Điều mà bản văn muốn nhắm tới là làm hoặc không làm theo ý Cha (c.31a ).
“Hôm nay” kèm lệnh truyền “êrgaxôu” = “hãy làm việc” ngôi 2/số ít, mệnh lệnh cách hiện tại, thể thụ động: đây là mệnh lệnh đến từ Thiên Chúa và luôn mang tính hiện tại. Làm vườn nho Chúa là chuyện mỗi ngày, chuyện “hôm nay”. Chính thái độ hôm nay của tôi trong tương quan với lệnh truyền của Chúa, bằng việc làm chứ không chỉ lời nói, quyết định vận mạng của tôi. Dụ ngôn không quan tâm tới cuộc sống, lối sống của cả hai đứa con trước khi có lệnh đi làm vườn nho của Cha. Cái cốt yếu là thái độ đáp trả trong hiện tại tương quan với lệnh Cha.
Thái độ của đứa con thứ nhất: phản ứng tiên khởi là tiêu cực “con không muốn”. Cách nói cộc lốc, ngang bướng, lấy sở thích của mình làm chuẩn mực. Dụ ngôn không giải thích tại sao đứa con lại có cách cư xử như thế, những rõ ràng đây là thái độ chống đối ra mặt, thẳng thừng không úp mở. Cái sai trái đã quá rõ không cần gì phải tranh cãi, biện phân. Sai trái nhưng không giả hình, thái độ đó bộc lộ con người thật của đứa con ấy đối với Cha. Phải chăng vì cái sai quá rõ nên chỉ cần bình tâm lại thì thấy ra ngay nên sau đó NÓ HỐI HẬN.
HỐI HẬN: Chìa khóa của vấn đề là ở đây. Yếu tố này giải thích sự thay đổi đột ngột của đứa con: từ chống đối trở thành tuân phục. Ở đây Matthêu không dùng động từ metanoiein = “thay đổi ý kiến, não trạng” (mang sắc thái nội tâm hướng về tương lai nhiều hơn) mà dùng metamelesthai = “hối hận” (nhìn về quá khứ nhận ra điều sai trái của mình và hàm ý sẽ có một hành vi ngược lại: 1M 11, 10; Hc 32, 29; 33,20; Kn 19,2; Xh 13,17...; Mt 27,3; 2Cr 7,8...).
Vậy đứa con thứ nhất đã thấy mình sai lầm quá rõ khi đã ngổ ngáo đáp lại Cha “tôi không muốn”, nên nó đổi thái độ, đổi ý kiến, lẳng lặng đi, làm điều Cha đã sai bảo.
Thái độ của đứa con thứ hai: câu đáp khá lạ lùng êgo kuriê = “Lạy Ngài, lạy Chúa, con đây”. Cách xưng hô kính trọng diễn tả sự vâng phục thẳm sâu với tất cả con người của người nghe đối với người ra lệnh: Coi như là chủ, là Chúa của mình, nắm giữ vận mạng của mình. Ấy thế mà hành động lại hoàn toàn trái ngược lại. Hình ảnh của người con thứ hai khiến ta nhớ lại Matthêu 7,21: tiêu chuẩn để trở nên môn đệ chân chính của Đức Giêsu, người con thật của Cha là “thi hành ý muốn của Cha Thầy”. Trong Matthêu, ý Cha là tất cả, dù có làm những việc rất tốt: trừ quỷ, nói tiên tri, làm phép lạ nhưng không theo ý Cha cũng là vô ích (Matthêu 7,22-23). Mà ý Cha không gì khác hơn chính là tin vào Đức Giêsu, đón nhận Người như là Đấng Mêsia được Chúa sai đến thực thi lời hứa cho tuyển dân. Điều này đám dân đen tội lỗi đã làm (21,1-11); trái lại nhóm thủ lãnh thì không (21, 15-16).
Ai đã thi hành ý muốn của Người Cha? Họ trả lời...: Đây là lối sư phạm Kinh Thánh thường sử dụng; bằng những câu chuyện dụ ngôn khéo léo. Người đóng vai chủ thể đã từng bước giúp cho đối tượng của mình tự tìm ra câu đáp đã được đặt ra hoặc đưa đối tượng vào chủ điểm mà mình muốn tới. Ví dụ chuyện Nathan tố cáo tội Đavít trong 2 Sm 12, chính Đavít mạnh miệng kết án mình, nhưng nhờ đó ông được giải thoát. Cũng vậy, ở đây câu đáp của các thủ lĩnh đã đưa họ vào sự thật: Họ không làm theo ý Cha. Xin nhắc lại bản văn không đặt nặng vấn đề luân lý ở đây: sai đúng; vấn đề là ai làm ý CHA: cốt lõi của việc thưởng, được vào nước TC là TIN, LÀM THEO Ý CHA (so với 7, 22-23). Đây là một mặc khải mới mẻ đối với cái nhìn vụ luật của các thủ lĩnh Do Thái. Tuy nhiên, đây chưa phải là lời kết án. Đúng hơn là một lời mời hoán cải, hoán cải như thế nào? Lời ứng dụng của ĐGS là câu đáp: tin vào sứ điệp của Gioan, để rồi tin vào ĐGS cụ thể là nghênh tiếp Người như đám dân đen đã làm một cách cuồng nhiệt (21, 1-11). Chưa trễ! Còn sống là còn hoán cải được. Chính con người và sứ điệp của ĐGS là “LỆNH LÀM VƯỜN NHO” của Cha cho mỗi người chúng ta.
2. Bài học ứng dụng của Đức Giêsu (18.31b-32)
♦ Khẳng định với đối tượng: “Amen, tôi bảo các ông”
♦ Nội dung chính: thu thuế, gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông
♦ Lý do: - khách quan: “Gioan đã đến chỉ đường công chính”
- chủ quan: thu thuế, gái điếm đã tin. Còn các ông đã không tin. Sau đó, khi thấy vậy rồi, vẫn không chịu hối hận để tin Gioan.
Amen: công thức mặc khải, khẳng định long trọng hàm ý phải tin.
Vào Nước Thiên Chúa TRƯỚC: tiền tố “prô” không ám chỉ thời gian trước / sau vì vào sau cũng là vào, mà ám chỉ “thay thế”.
Vậy, trong phần áp dụng, Đức Giêsu nói rõ: đứa con thứ nhất là những người tội lỗi mà hai đại biểu rõ nhất là thu thế và gái điếm. Theo lề luật, hai hạng này đừng mong gì được hưởng hạnh phúc thời Mêsia, được vào Nước Thiên Chúa. Đứa con thứ hai là những kẻ nhìn theo lề luật và ngoan ngoãn, lịch sự, ăn nói lễ phép; vậy phần thưởng Nước Thiên Chúa gần như là chắc chắn. Đại biểu của nhóm này là các thủ lĩnh. Thế nhưng khẳng định của Đức Giêsu là thính giả sửng sốt.
Hạng thu thuế, gái điếm sẽ THAY THẾ “nhóm tư tế” trong Nước Thiên Chúa.
Lý do bị loại trừ, bị thay thế: Gioan đã mở đường công chính mà các ông không tin. “Đường công chính” đó không gì khác hơn chính là Đức Giêsu, Đấng được Gioan giới thiệu (3,1-15); chính Cha giới thiệu là con yêu dấu (3,17), hãy vâng nghe lời Người (17,5); Đức Giêsu cũng tự biểu lộ qua cách giảng dạy đầy uy quyền (7,29) và các phép lạ. Trước những biểu lộ ấy, đám dân tội lỗi đã đón nhận, còn nhóm Biệt Phái và Thủ lãnh lại chống đối, tìm giết Đức Giêsu, bẻ cong sự thật (12,14,24; 21,15-16).
Không tin sứ điệp của Gioan dẫn tới không tin vào Đức Giêsu đã là sai. Cái sai còn nặng hơn, khi thấy đám đông tin lại không HỐI HẬN để TIN. Mục đích của HỐI HẬN là để tin chứ không để tuyệt vọng như Giuđa (27,3-5). Vậy Đức Giêsu không nuông chiều kẻ dữ, không chê người giữ Luật làm lành nhưng Người tỏ ra cho cả 2 biết một CON ĐƯỜNG mới mà điểm qui chiếu chủ yếu KHÔNG CÒN LÀ LUẬT NỮA mà là chính Người. Lắng nghe, đón nhận thi hành Lời Đức Giêsu, đó chính là cách tuyệt vời nhất để thi hành ý Cha.
3. TÓM KẾT
Sứ điệp chính: thi hành ý Cha trong giây phút hiện tại. Vì là “hiện tại” nên phải làm suốt đời, từng giây phút. Đây là yếu tố chính yếu quyết định số phận mỗi người có được vào Nước Thiên Chúa hay không. Quá khứ, dù là tội nhân (không giữ Luật) hay là công chính (giữ Luật tốt) đều là con Thiên Chúa cả, Người muốn ân thưởng Nước Thiên Chúa cho cả hai hạng con. Làm theo ý Cha trong hiện tại là thế nào? Là HỐI HẬN để tin vào Gioan.Thực ra qua Gioan, TIN vào Đức Giêsu.
Với sự xuất hiện của Đức Giêsu Thiên Chúa đã nói lời chung cuộc: kẻ tội lỗi đương nhiên phải hối hận; kẻ tự thấy mình công chính nhưng khước từ Đức Giêsu cũng phải hối hận đón nhận Người và tin vào Người. Đó chính là thực thi ý Cha.
Trong tinh thần phụng tự: Tính hiện tại của việc chọn lựa của con Người trước Thiên Chúa là yếu tố nổi bật: Thi hành ý Cha trong giây phút hiện tại.
Pet. Đình Long, FSC