Tháng 10, 2018

Vital Luca Nguyễn Hữu Quang, fsc

 

“Một cách tiềm ẩn, linh đạo có thể là ân sủng cứu độ của Á châu.”

(D. O’Murchú)

 

I. MỘT TỔNG QUAN

 

 Dẫn Nhập: Một Cái Nhìn Biện Chứng Giữa Linh Đạo Và Tôn Giáo

Nhà thần học và thần bí Tin Lành Dietrich Bonhoeffer, từ lao tù Đức Quốc Xã, vào tháng 4/1944, đã viết cho những bạn hữu chí thân những lời mà ngày nay đã trở nên sự thách thức và dày vò nhiều thế hệ thần học gia:

 

Chúng ta đang tiến bước đến một giai đoạn, không còn tôn giáo nữa… Làm sao chúng ta có thể nói về Chúa mà không có tôn giáo… Làm sao chúng ta có thể nói về Thiên Chúa theo một cung cách tục hóa?[1] 

 

Ngày nay trong thế giới phương Bắc với nền văn minh khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin vô cùng vượt bực, đi đôi với sự phát triển của một xã hội tiêu thụ càng lúc càng tinh vi, con người càng xa vắng với những đền thờ, nhà thờ, chùa chiền. Nhưng mâu thuẫn, họ lại tỏ ra quan tâm và kiếm tìm những hình thức tâm linh Yoga, Zen, …, bỏ ra hàng giờ để nghe thuyết pháp của Đức DaLai Latma về cuộc sống hòa điệu, cũng như của Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta, về sự dấn thân giúp đỡ người nghèo. Đối với những người thật sự nghiêm túc đang khắc khoải tìm kiếm một hình thức sống có lý tưởng, có thể họ đã nghiệm thấy những tôn giáo hệ thống, tổ chức chặt chẽ, một vật cản cho một ước vọng sâu xa cho sự tăng trưởng bản thân qua sự kết hiệp với dạng siêu việt nào đó mà họ có kinh nghiệm? 

 

1.Thuật Ngữ Linh Đạo, Một Sơ Lược

1) Thuật Ngữ ”Linh Đạo" (spirituality) là một từ khóa, một hạn từ mang nhiều ý nghĩa và chứa đựng các đặc tính chung,[2] khó mà chấp nhận một định nghĩa dễ dãi và xác định. Nhìn gốc từ tiếng Anh spirituality hay spiritual ta nhận hấy có spirit rồi chắc chắn có liên quan đến Spirit. Spirit là tinh thần, thần khí, Thánh Linh.

 

2) Một Tiếp Cận Theo Nhân Học Tôn Giáo

Vào thế kỷ chúng ta, linh đạo không nhất thiết đụng đến tôn giáo: (i) Theo D. O’Murchú, nhà thần học về linh đạo:

 

"Linh Đạo" không hẳn là về tôn giáo, hoặc sự tham dự nhà thờ, hoặc lòng trung thành với một hoặc yêu cầu pháp lý nào khác. Linh Đạo được hiểu là một sự khôn ngoan bẩm sinh của con tim con người, làm cho cuộc sống phấn chấn tươi vui lên, một tìm kiếm ý nghĩa và cứu cánh, một tình yêu dành cho tất cả những điều gì là thiện mỹ, một niềm đam mê để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn, một sự nhạy cảm với cuộc sống-năng lượng (là Thiên Chúa, nếu bạn muốn) đang thẩm thấu vào toàn bộ vũ trụ.[3]

 

 

Murchu’ còn nói rõ hơn nữa, ông cho rằng theo một ý nghĩa trọn vẹn[4] linh đạo không phải là vần đề nhà thờ, nghi lễ hay tôn giáo. Nó là phẩm chất của trải nghiệm nội tâm được chia sẻ bởi mọi người từng cá nhân một. Điểm trung tâm của hành vi cử chỉ họ là tìm ý nghĩa mà mỗi con người theo đuổi từ tận chiều sâu con tim họ là nam hay nữ và rồi nhiều người bước theo…[5]

 

(ii) Nhìn chung, đó là một cung cách sống và diễn tả một "tinh thần" (spirit) nhất định. Nói cách khác, nó là sự diễn tả một ý nghĩa sâu sắc (có thể là siêu việt) của những gì chúng ta đang trải nghiệm. "Ý nghĩa sâu sắc" này không phải lúc nào cũng liên quan đến lĩnh vực tôn giáo hay thiêng liêng, nhưng với các giá trị mà mỗi người xem là xác định và dựa trên đó, họ đặt nền tảng cho lối sống (style) của mình và các tuyển chọn quan trọng nhất của mình. Đây là lý do tại sao thuật ngữ "Linh Đạo" có thể đơn giản mang tính "nhân bản, thế tục" hoặc thậm chí xa lạ với mọi chiều kích tôn giáo.[6]

 

(iii) Ngày nay, vào thế kỷ XXI này có rất nhiều lối sống như thế mà không nhất thiết có quan hệ gì đến Đấng Siêu Việt. Những người sống thiện nguyện, những sinh viên giúp các Srs phát  “nồi cháo không bao giờ cạn,” không luôn phải là người có đạo này đạo nọ, những Bác Sĩ Không Biên Giới, làm việc những vùng đang xảy ra bệnh dịch, chiến tranh, thiên tai…Lý tưởng đôi khi khá đơn giản: họ chỉ muốn làm nhẹ những thương đau của nhân loại, cho con người sống nhân phẩm hơn…

3) Theo nữ thần học đời tu Sandra Marie Schneiders, tôn giáo và linh đạo có thể thấy ở ba mức độ:[7] 

(1) Thái Độ Cơ Bản Nhất: Đó là lập trường cơ bản đối với cuộc sống của người tin chung chung vào Thiên Chúa (hay Đấng Siêu Việt) nhưng Ngài còn rất mơ hồ và như hệ luận, họ chấp nhận những thái độ và hành xử trước Thực Tại Tối Thượng này trong tự do. Họ có một linh đạo, một lối sống cũng khá chung. Tôn giáo không có nhiều ảnh hưởng.[8]

Nhà bác học Einstein có một ý nghĩa tương tự. Theo ông,

 

Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó nên siêu việt hóa một Thiên Chúa ngôi vị và tránh giáo điều và thần học. Khi bao gồm cả tự nhiên và tâm linh (spiritual), nó phải được dựa trên một cảm thức tôn giáo phát sinh từ kinh nghiệm của tất cả mọi thứ tự nhiên và tâm linh như một sự thống nhất có ý nghĩa.[9]

 

(2) Tôn Giáo Có Thể Là Sự Biểu Lộ Một Truyền Thống Đức Tin lớn như là Do Thái giáo, Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo…, và chúng thường là xuất phát từ những kinh nghiệm nền tảng của mạc khải (ví dụ như là Sự Giác Ngộ của Phật, kinh nghiệm thân mật phụ-tử của Đức Yêsu với Thiên Chúa, truyền thông sứ mạng của thần sứ Gabriel cho Mahomet, v. v…). Sinh ra trong truyền thống này con người có một cung cách để hiểu biết và sống trước thực tại cùng đích một cách tự nhiên không gò bó.[10]

Người có linh đạo Kitô giáo thì chính là kẻ có tôn giáo là Kitô giáo. Tương tự cho Phật giáo, Hồi giáo,… những tôn giáo lớn truyền thống.

 

(3) Tôn Giáo Còn Có Thể Được Biểu Lộ Qua Một Dạng Tổ Chức Của Một Truyền Thống Thiêng Liêng Đặc Biệt: Ví dụ như Hội Đồng Luthêrô Bắc Mỹ, Nhóm Do Thái giáo Cải Cách, Nhóm Sunni và Shiite Hồi giáo, Nhóm Công Giáo Tiền Vatican II, v. v… Những tổ chức này có một bản tuyên tín (liên quan đến tín lý), một bộ luật qui định hành vi cử chỉ luân lý đạo đức, một qui định về thờ phượng.[11] Họ có lối sống linh đạo đặc biệt đi theo truyền thống đức tin của họ.

 

2. Đâu là Mối Tương Quan Giữa Tôn Giáo và Linh Đạo?

Trong dòng lịch sử tiến hóa của nhân loại, có một lúc nào đó tôn giáo xuất hiện trong đời sống con người. Và phần nhiều chúng ta (bao gồm người cho rằng mình không có tôn giáo) đều lớn lên với một di sản tôn giáo khá dày.

Đối với người Việt Nam, đạo ông bà là cái nền chung đặc sắc của văn hóa Việt Nam[12] cộng thêm những ảnh hưởng vô hình của Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Kitô giáo.[13] Vì thế khi nói đến linh đạo ta không thể không nói đến tôn giáo.

 

1) Đối với sinh viên thần học ngày nay, việc đưa "linh đạo" vào nhà trường như là một bộ môn học trong lãnh vực thần học, theo Mary Milligan, đó là một hiện tượng tương đối mới. Milligan là tác giả Chương IX viết về Linh Đạo Kitô giáo trong sách giáo khoa rất thông dụng trong các trường thần học ngày nay, cuốn Introduction to Theology (1993).[14] Như là một kẻ sinh sau đẻ muộn vào chính trường học thuật, linh đạo vẫn còn đang trong quá trình xác định các phạm trù, khái niệm và phương pháp của nó. Như một môn thần học thì các tham số liên quan đến linh đạo hiển nhiên là rất rộng. Điều đáng quan tâm đó là mỗi linh đạo trong số các linh đạo đều qui chiếu đến một thực tại siêu việt và sự diễn dịch kinh nghiệm con người dựa trên thực tại đó.[15]

 

2) Chữ "Linh Đạo" có ý nghĩa tôn giáo nếu "ý nghĩa sâu sắc" nói trên được thể hiện có liên quan đến Thượng Đế, Đấng Siêu Việt, Đấng Thánh, Thiên Chúa. Linh Đạo cũng là cung cách gắn kết với Thiên Chúa, xuất phát từ kinh nghiệm quan trọng, từ nhiệm vụ giáo dục, từ mối tương quan của chúng ta với tha nhân, từ cách nhận thức của chúng ta về lịch sử và thực tại xã hội.

 

3) Trong Đời Sống Thực Tế:  Linh Đạo Hay Tôn Giáo?

 (i) Một người cha đau khổ vì đứa con duy nhất của mình bị tai nạn rất nặng. Ông kêu cầu đến vị mục tử và hy vọng vị này đến để làm một "phép lạ" bằng lời cầu nguyện hay đặt tay cứu con ông. Nhu cầu đó là tôn giáo.[16] Công việc quan tâm mục vụ của vị linh mục có thể chỉ gói gọn làm theo như lời van xin của người yêu cầu, xức dầu kẻ liệt, nói vài lời khuyên chiếu lệ, hứa trở lại và an tâm ra về.

(ii) Ông có thể bỏ sót qua một nhu cầu ít rõ ràng hơn, đó là tìm kiếm thiêng liêng, tìm kiếm ý nghĩa ẩn tàng dưới nhu cầu tôn giáo mà người cha đau khổ muốn chia sẻ và khám phá nếu cơ may có một mối quan hệ thích hợp nào đó được thiết lập. Có lẽ nguời cha sẽ nói rõ hơn sự dằn vặt của mình về một điều mà ông cho do bản thân có một sự bất trung nào đó khiến "Chúa phạt" vào con ông? Hay một điều gì khác nữa?

(iii) Một sự phân biệt giữa tôn giáo và linh đạo (hay thiêng liêng) có thể được vạch ra giữa hai hạn từ  "muốn" và "nhu cầu." Cái gì ta muốn thường đó là một sự ước muốn,[17] còn nhu cầu đó là cái gì gắn liền với cái đòi hỏi cơ bản của con người. Ai đau nặng rõ ràng "mong muốn" được hoàn toàn lành bệnh ngay, tựa một phép lạ. Nó cũng có thể là ước muốn của người thân kẻ đau nặng. Cùng một lúc bệnh nhân (hay nguời thân) có thể cần sự hỗ trợ tinh thần để có thế trực diện với bệnh tật, đón nhận mọi chữa trị cần thiết. Cũng có một nhu cầu được thấu cảm như là một con người, và dù cho điều gì có thể xảy ra, có thể do lầm lỗi hay do bản chất bệnh tình của họ, hay cả khi do tính khí nóng nảy, phiền trách vì đau đớn, họ mong muốn được hỗ trợ tinh thần, không trải qua cảm giác bị quên lãng, bị bỏ rơi.

(iv) Hạn từ linh đạo như ta đã nói ở trên, mang nội dung của một định hướng đi tìm ý nghĩa cho đời sống và thường đụng đến cái siêu việt, cùng đích hay tối hậu. Và nếu áp dụng vào sự đau khổ, nói theo Frankl (1987): "Người ta không bị tiêu diệt bởi đau khổ, nhưng bởi thứ đau khổ vô nghĩa." Tác giả phân tâm hiện sinh này đã cho một kinh nghiệm bản thân qúi báu trong trại tập trung Đức Quốc Xã (Thế Chiến II) khi ông đấu tranh với chính mình để tìm ra được ý nghĩa trong đó. Ông cho rằng khuynh hướng tìm ý nghĩa đó là hiện tượng nhân bản nhất, chỉ vì các loài động vật khác không mảy may bận tâm đến ý nghĩa hiện sinh của chúng. Sự hoành đoạt [18] và thác loạn thần kinh hiện sinh[19] liên quan đến sự hoành đoạt và thiếu sót ý muốn tìm ý nghĩa. Một sự "thác loạn" như thế không liên quan đến bản năng hay các khuynh hướng sinh lý nhưng mang tính tâm linh hơn và bén rễ từ sự trốn chạy khỏi tự do và trách nhiệm. Trong những truờng hợp như thế, người bệnh trách móc số phận, tuổi thơ ấu, công việc làm ăn, môi trường xung quanh của mình.[20]

 (v) Hạn từ tôn giáo liên quan nhiều hơn đến nhu cầu thực hành một diễn tả nào đó của linh đạo. Ví dụ nhu cầu cần đến một linh mục, đi nhà thờ, cầu nguyện, đón nhận bí tích v. v… Những đòi hỏi về nhu cầu đó cách chung dễ được đáp ứng với những câu hỏi, tựa như, "Tôn giáo bạn là gì? Bạn có cần gặp một tuyên úy không? Có yêu cầu riêng biệt gì không?" v. v… Những câu hỏi trực tiếp như thế thường chỉ khơi lên những nhu cầu thực hành tôn giáo hơn là nhu cầu thiêng liêng, những âu lo khắc khoải liên quan đến vấn đề cùng đích. Hiển nhiên, khi một sự thỏa mãn nhu cầu tôn giáo đã được đáp ứng, một sự kiếm tìm sâu hơn, xa hơn liên quan đến toàn diện con người cũng có thể xảy ra khi một quan hệ thân ái, tin cậy hơn được thiết lập.

(vi) Một quan tâm mục vụ tốt thì cần phải lưu ý đến cung cách qua đó chúng ta phân định và biết nắm lấy cả hai vấn đề: thiêng liêng và tôn giáo. Đồng thời người quan tâm mục vụ còn biết cậy nhờ đến sự hỗ trợ của những giới khác liên quan đến người đau bệnh để cùng giúp bệnh nhân trong sự truy tìm ý nghĩa.  

Nói tóm lại, hiểu như trên, tôn giáo chỉ là sự diễn tả một khía cạnh của sự phát triển thiêng liêng của con người, và chỉ là một khía cạnh. Nhưng tiến hóa thiêng liêng[21] của con người như là một chủng loại (đi tìm ý nghĩa) đã xảy ra có lẽ vào hàng trăm ngàn năm qua trong lúc chưa có thể xuất hiện một tôn giáo hình thức đúng nghĩa. Theo O'Murchú, nói như thế có nghĩa là linh đạo gắn liền với điều kiện sống của nhân loại và như thế gắn liền với sự tiến hoá của vũ trụ, còn tôn giáo thì không. Nói cách khác, linh đạo có một phẩm chất bền vững và tồn tại, cùng cận kề với sự tiến hoá của nhân loại; trong khi tôn giáo xảy ra vào trong một thời kỳ nhất định nào đó và có thể biến mất, như vô số tôn giáo nguyên thủy.[22]

 

3. Linh Đạo Một Cái Nhìn Hiện Sinh: Linh Đạo Như Là Qui Trình Tự-Siêu-Việt Và Truy Tìm Ý Nghĩa Nhân Bản

Hạn từ "Linh Đạo" từ thập niên 1990 đã mang một ý nghĩa khá tổng quát.

 

1) Linh Đạo Như Là Một Kinh Nghiệm

Định nghĩa linh đạo thì khó như là định nghĩa kinh nghiệm. Khó có lẽ chỉ vì nó là một loại kinh nghiệm đặc biệt. Nhưng bởi vì kinh nghiệm là nền tảng của linh đạo, nên nghiên cứu linh đạo chủ yếu là nghiên cứu qua các biểu hiện của kinh nghiệm.[23]

 

(1) Mặc dù linh đạo, nguyên thủy là một hạn từ đặc biệt gắn liền với tôn giáo và chính xác là một từ ngữ của Kitô giáo,[24] nhưng ngày nay nó được dùng một cách rộng rãi, không những để chỉ những kinh nghiệm không phải là Kitô mà còn không nhất thiết dính đến bất kỳ một truyền thống thiêng liêng của một tôn giáo nào [Kitô giáo, Phật giáo, v.v…, hay một diễn tả cụ thể của một truyền thống tôn giáo đặc biệt nào (Ví dụ Tin Lành Luthêrô, Giáo Hội Chính Thống, La Mã v.v…)]. Peter Van Ness, một chuyên gia về linh đạo của người "ngoại đạo" đã định nghĩa linh đạo như là

 

Một cố gắng nhập thể để hiện thực bản ngã đích thực nhất của ta trong bối cảnh thực tại được nắm bắt như là một tổng thể vũ trụ. Đó là sự kiếm tìm để đạt đến quan hệ tối ưu giữa cái chính xác con người là và cái tổng thể thật sự; một sự kiếm tìm mà có thể được tiếp nối bằng cách đón nhận những thực hành thiêng liêng thích hợp và tham dự vào những nghi lễ cộng đồng liên quan.[25] 

     

(2) Nói cách khác, ta có thể nói về linh đạo mà không cần có một qui chiếu nào đến một Thực Tại Tối Thượng, vượt trào toàn thể cuộc sống. Chính vì thế một linh đạo có thể (thật ra không  nên thế) chỉ là thế tục hay duy tự nhiên mà còn có thể là vô thần.[26]

 

2) Linh Đạo, Cơ Bản Nhất, Đó Là Một Con Đường, Một Cung Cách, Một Cố Gắng,  Một Cởi Mở Cách Triệt Để Truy Tìm Ý Nghĩa (Siêu Việt) Của Con Người, Hướng Đến Sự Hoàn Thành Bản Thân.

 

Truy Tìm Ý Nghĩa (Siêu Việt) Của Con Người, Cửa Cuộc Sống:

(i) Theo O'Murchú, các nhà thần học linh đạo ngày nay có thể tìm thấy một một mẫu số chung khi nhìn linh đạo như là sự truy tìm ý nghĩa của con người[27].

 

(ii) Thật vậy, mỗi con người chúng ta, ở mọi thời đại, đều cố gắng đi đến cái cốt lõi ý nghĩa của đời sống với tất cả những khía cạnh vừa đa dạng vừa phức tạp của nó. Suốt đời chúng ta khám phá, tìm kiếm và thậm chí áp đặt ý nghĩa khi chúng ta cảm thấy chúng không tồn tại trong các sự việc xảy ra hằng ngày. Có lẽ con người không thể làm khác hơn vì đó là bản chất của hữu thể nhân bản. Có ai đó nói: Con người là thụ tạo tìm ý nghĩa[28] và mọi năng hướng truy tìm ý nghĩa theo tác giả này, xuất phát không những từ chiều sâu thẳm trong chúng ta, nhưng một cách nào đó còn sâu xa hơn, đó là từ lòng tạo dựng.[29] Ross Thompson (1980) trong tuyệt tác Linh Đạo Vật Chất [30] bạo dạn gợi ý rằng ngay hệ thống thần kinh tự lập của con người khi muốn truyền thông hay thông tin đều hướng sao cho mục tiêu đạt đến ý nghĩa đầy đủ nhất.

 

3) Sự truy tìm thiêng liêng, việc theo đuổi ý nghĩa có nhiều cách gián tiếp và diễn giải. Trong quá khứ con người đã thờ lạy nhiều thần linh và có vị là giả tạo kể cả những vị mà con người yêu thích trong các tôn giáo xa xưa của mình. Nhưng những cố gắng của con người để truy tìm ý nghĩa của cuộc sống không lúc nào xa rời con người, đặc biệt vào những lúc khủng hoảng nhất trong cuộc sống. Chính điều mà nhà thần học G. Winter đã giải thích khi con người có băn khoăn tôn giáo mà theo ông đó là phong cách con người hay một cộng đoàn qua đó hiểu và sống những câu chuyện của họ trong một thế giới gây bối rối và thay đổi.[31] Theo ông, "tôn giáo" biểu lộ căn tính của một dân tộc[32]  và "Căn tính  thiêng liêng của con người là không thể tránh khỏi; không có nó đơn thuần chúng ta không tồn tại."[33]

 

 Linh Đạo Như Là Một Sự Cởi Mở Cách Triệt Để Đến Siêu Việt

1) Minh nhiên hay mặc nhiên nhiều tác giả khi bàn thảo về linh đạo ngày nay đều nói đến tính tự-hướng về siêu việt của con người. S. M. Schneiders định nghĩa linh đạo như là một sự truy tìm một sự hoàn thành siêu việt cuộc sống hướng đến một giá trị cùng đích mà con người nhận thức được.[34] Linh Đạo như vậy, theo một nghĩa nào đó là một sự cởi mở cách triệt để đến siêu việt.[35]

 

2) Theo nhà thần học O'Murchú, con người ngay từ lúc bước vào làm người đã tự hướng đến siêu việt[36]  ngay khi mọi dạng tôn giáo theo ba mức độ nói trên chưa được hình thành. Đó là chiều kích nội tại của mọi con người.

 

3) Theo một nghĩa chặt hơn, linh đạo qui chiếu đến sự khôn ngoan thiêng liêng được tích lũy trong di sản nhân loại qua dòng thời gian khi con người nỗ lực tìm kiếm sự hiệp nhất với Đấng mà các truyền thống thường gọi là Siêu Việt, hay Đấng Cùng Đích, hay Đấng Thánh hay đơn giản là Thiên Chúa.[37]

 

4) Đối với các nhà nghiên cứu linh đạo, tính chất đặc thù vừa nói trên đem lại ý nghĩa và đảm bảo tính toàn nguyên cho đời sống con người[38] khi biết đặt con người trong chân trời của sự cùng đích. Thật vậy cái gì thực sự làm con người khác biệt với "vật chất?" Theo đông đảo các triết gia hay thần học gia, đó là cái  "thiêng liêng." Một hữu thể thì thiêng liêng bao lâu nó có khả năng tự hướng đến siêu việt nhờ qua tri thức và tình yêu.[39] Đó là toạ vị của con người "thiêng liêng," một ngôi vị. Nhờ cặp tọa vị này con người có khả năng hiện thực được sự tương tác hài hòa với trường huấn luyện (Thiên Chúa Ba Ngôi, vũ trụ vạn vật, cộng đồng nhân loại, biến cố xã hội lịch sử, và ngay chính bản thân).

 

Linh Đạo Như Là Một Con Đường, Một Cung Cách, Một Cố Gắng Sống Đức Tin

1) Đối với phần đông (đặc biệt những ai ở trong truyền thống Kitô) linh đạo gắn liền với tôn giáo tin vào Thiên Chúa, Đấng hiện diện trong thế giới này và con người. Con người cố gắng sống đạo đức và thực hành thiêng liêng để có thể hiệp nhất với Ngài.[40]

 

2) Trong cùng ý niệm như thế, linh đạo theo ý nghĩa hướng thần, cố vạch ra được cái gì giúp cho sự hiện thực hoá khả năng nhân bản tự hướng về siêu việt trong quan hệ nhân vị, đặc biệt với Thiên Chúa, một cách đặc thù nhất và cao siêu nhất.[41] Theo cả hai ý nghĩa trên, linh đạo chính là khả năng đặt con người đi vào tương quan gặp gỡ với mầu nhiệm huấn luyện có thể siêu việt hóa nó.

 

3) Trong thần học linh đạo, cách chung ngày nay người ta thường hiểu linh đạo như là một con đường, một cung cách, một cố gắng sống đức tin trong đời thường của mình. Nó cũng là một phương cách con người đi vào tương quan với những điều kiện mang tính cùng đích của cuộc sống. Trong lĩnh vực thần học Kitô giáo, linh đạo qui chiếu đến kinh nghiệm sống với Thiên Chúa Ba Ngôi và suy tư thần học về kinh nghiệm này. Nó không tập trung trên chính đức tin, nhưng trên sự phản ứng mà đức tin ấy khơi lên trong ý thức và thực hành.[42]

 

4) Cái làm nên một linh đạo Kitô giáo đó là mầu nhiệm truyền thông trung tâm. Đối với mọi Kitô hữu, đó là Đấng Siêu Việt, Đấng Thánh, Đấng Tối Thuợng, Đấng Khác, chính là Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc khải trong Đức Yêsu thành Nazareth. Kinh nghiệm siêu việt của người Kitô hữu được bén rễ và được diễn giải qua chính Đức Yêsu Kitô phục sinh và được hướng dẫn bởi Thần Khí  của Ngài.

 

4. Tinh Thần Nhân Bản Như Cội Nguồn Của Linh Đạo

Khi hai tông đồ Yoan và Yacôbê xin Đức Yêsu khiến lửa trời thiêu hủy dân Samari vì đã không tiếp rước Ngài, Chúa Yêsu đã khiển trách các ông vì không biết tinh thần nào đã thúc đẩy các ông làm như vậy (Cf. Lc 9, 55).

 

1) Ta  thấy Phaolô, khi mô tả về đời sống trong Thánh Linh hình như Ngài đã đụng đến cốt lõi của bất cứ định nghĩa nào về linh đạo Kitô giáo (trong tương quan với truyền thống tôn giáo, mức độ hai): Đó là một sự hiểu biết Thiên Chúa và mối tương quan của bản thân với Ngài làm ảnh hưởng đến cung cách sống của mình. Trong viễn tượng đó ông viết cho tín hữu Rôma: "Anh em hãy thay đổi cách sống của anh em theo tinh thần đổi mới" (Rm 12, 2).

2) Như ta đã nói ở trên, linh đạo không tập trung trên chính đức tin nhưng trên thái độ mà đức tin ấy khơi lên trong ý thức và thực hành. Cái gây lên ý thức và thực hành hướng đến siêu việt, Paul Tillich gọi đó là tinh thần nhân bản. Ông định nghĩa nó như là  năng lực linh hoạt tiềm ẩn thúc đẩy mọi cung cách hoạt động của ta.

 

3) Trong Linh Đạo Huấn Luyện, tinh thần nhân bản là một hiển linh khác của mầu nhiệm huấn luyện. Chính tiến trình huấn luyện và tạo thành đã được biểu lộ qua vũ trụ, đặc biệt trong thế giới không phải là nhân bản, thì cũng biểu lộ tương tự trong huấn luyện nhân bản. Nữ thần học Elizabeth Johnson tóm tắt tuyệt vời tiến trình tiến lên tinh thần nhân bản như sau:

 

Định luật ý thức-phức hợp biểu lộ rằng có những tổ hợp thể lý càng rối reng hơn, như là được vẽ lại trong tiến hóa của não bộ, sản sinh ra ngay những dạng tinh thần uy lực hơn. Vật chất tràn đầy năng lượng, tiến hóa đến tinh thần. Trong khi sự thông minh khác biệt, nhân bản và sự sáng tạo vượt khỏi bản chất đích thực của vũ trụ, tự thân thông minh và sáng tạo. Nói cách khác, tinh thần nhân bản đó là vũ trụ đi đến ý thức.[43]

 

4) Là một chiều kích của đời sống, nên tinh thần nhân bản không phải là một cái gì đó được thêm thắt vào hệ thống hữu cơ của con người ta. Nó chính là năng lực của đời sống, một động lực của đời sống. Nhưng không phải một động lực bất kỳ nào mà đó là khả năng tiềm ẩn thúc đẩy sự tự hướng đến siêu việt của con người, đồng thời nó còn là sự hiệp nhất và năng lực mang ý nghĩa.[44]

 

5) Ngoài những điều đặc sắc khác, tinh thần nhân bản còn diễn tả khả năng rộng mở của chúng ta đến cái toàn thể cho phép siêu việt hóa những biểu hiện ngẫu nhiên và đơn độc của con người.[45] Chúng ta cảm nghiệm trong cuộc sống bản thân: sống đó là lớn lên sung mãn bằng cách nhận và tạo một dạng nhân bản cho hiện sinh chúng ta. Sự huấn luyện nhân bản này không chỉ do bản năng hay ngay bản năng cơ bản, di truyền hay xu hướng.[46] Nó còn cần được điều chỉnh, hướng dẫn và bổ sung bởi những định hướng huấn luyện nhân bản, i.e., tất cả những tiếng gọi, những thúc bách, đến từ cuộc sống mà trong quá trình huấn luyện bản thân được định giá, khẳng định và qui biệt.[47]

 

6) Không đi sâu vào vấn đề, [48] ta biết, từ những đóng góp có ý nghĩa của nữ thần học đời tu Sandra M. Schneiders (1986), ngày nay bất kỳ ai bàn luận về linh đạo, trong khi cố gắng tránh những loại trừ Kitô và những hạn hẹp của những tông phái, một cách ẩn tàng, thì đều nói đến sự tự-hướng-đến-siêu-việt.  Phẩm chất này, khi đem lại tính toàn nguyên và ý nghĩa cho đời sống con người, thì đặt con người ngay vào trong chân trời của cùng đích.[49] Tương tự, khi dẫn nhập vào linh đạo Kitô, M. Milligan xem linh đạo như là sự rộng mở triệt để đến siêu việt và như là thành tố gắn liền với bản chất nhân loại.[50]

 

 

 

 

 

  “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói, ‘Từ lòng Ngài, sẽ tuôn chảy những nước hằng sống’ Đức Yêsu muốn nói về Thần khí mà những kẻ tin vào Ngài sẽ lãnh nhận.” (Gioan 7, 37-39)

 

II. Linh Đạo La San

Và Thiên Chúa-Ba Ngôi

 

Linh Đạo Dòng Tu Chính Là Linh Đạo Kitô Giáo Được Đọc Lại Dưới Viễn Tượng của Một Đặc Sủng, Một Tinh Thần…

A. LINH ĐẠO KITÔ GIÁO TUÔN TRÀO TỪ KINH NGHIỆM ĐỨC TIN KITÔ GIÁO

 

Nói đến Linh Đạo Kitô giáo, ta ngầm hiểu linh đạo này song hành với một tôn giáo truyền thống, đó là Kitô giáo, theo cái nhìn của Mary Schneider.

 

1. Những Nét Đặc Thù Của Linh Đạo Kitô Giáo

1) Trong viễn tượng của Linh Đạo Huấn Luyện, phần Trường Huấn Luyện, Cực Huấn Luyện,[51]đối với Linh Đạo Kitô giáo, Mầu Nhiệm Trung Tâm hay Mầu Nhiệm Huấn Luyện, chính là Thiên Chúa Ba Ngôi. Mary Milligan khi viết về Linh Đạo Kitô giáo[52] cũng đã nêu lên vấn đề này:

 

Trong lãnh vực thần học Kitô giáo, linh đạo qui chiếu đến kinh nghiệm sống về một Thiên Chúa Ba Ngôi và suy tư thần học về kinh nghiệm ấy. Nó “tập chú không phải trên bản thân đức tin, nhưng trên thái độ mà đức tin ấy khơi lên trong ý thức và thực hành Kitô giáo.”[53]

 

Nói cách khác, theo tác giả, “nghiên cứu linh đạo Kitô giáo là nghiên cứu những biểu hiện của kinh nghiệm tuôn trào ra từ đức tin Kitô giáo.”[54] Đó là nghiên cứu kinh nghiệm đã được sống cắm rễ trong một sự nhận hiểu về Thiên Chúa Ba Ngôi, về chính bản thân mình, về tha nhân và về thế giới.[55] Nó còn là “đường  lối sống kinh nghiệm về Thiên Chúa-Ba Ngôi (hoặc về Thực Thể Tuyệt Đối), là cách sống kinh nghiệm về Chúa Cha qua Ðức Kitô trong Thần Khí.[56]

 

2) Như vậy, theo một nghĩa chặt, linh đạo qui chiếu đến sự khôn ngoan thiêng liêng[57] được tích lũy bởi loài người xuyên qua các thời đại trong nỗ lực tìm kiếm sự hiệp nhất với siêu việt, thường được gọi là Thiên Chúa, Đấng Thánh, Đấng Siêu Việt, Đấng Tuyệt Đối…. Người Kitô hữu gọi Đấng Siêu Việt đó là Thiên Chúa-Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Đấng này đã được mạc khải nơi Đức Yêsu thành Nazareth.[58]

Còn khi nói người Kitô hữu có linh đạo Kitô giáo, ta hiểu đó là con người có

 

Trải nghiệm được cắm rễ trong, và được diễn dịch theo, một sự nhận hiểu căn bản về Thiên Chúa-Ba Ngôi và về mối quan hệ giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi với con người nơi Đức Yêsu Kitô.[59]

 

2. Đức Kitô Như Nguyên Mẫu Của Mọi Linh Đạo

1) Thật vậy, đời sống Đức Yêsu là gương mẫu của mọi linh đạo Kitô giáo, và hành trình tâm linh của Kitô hữu luôn luôn là chính hành trình mà Đức Yêsu đã bước đi. “Để biết chính Đức Kitô, nhất là biết Ngài quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Ngài, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong cái chết của Ngài” (Pl 3,10) – đó là mục tiêu của đời sống Kitô hữu. Mối quan tâm noi gương sống của Đức Yêsu vốn được ghi nhận rõ ràng trong các trang Tân Ước.

Nhắc lại cái chết của Stêphanô, Kitô hữu tuẫn đạo tiên khởi, tác giả Sách Công Vụ Tông Đồ đã hữu ý trình bày cái chết ấy giống cái chết của Đức Yêsu (Cf. Cv 6, 8 - 7, 60). Các kỳ lão, các kinh sư và các thành viên của Công Nghị đã tố cáo Stêphanô “sử dụng ngôn ngữ phạm thượng chống lại Môsê và chống lại Thiên Chúa” (6, 11) – giống như trường hợp của Đức Yêsu. Stêphanô thấy trời mở ra và “Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa,”như Đức Yêsu đã nói trước trong cuộc khổ nạn của Người, theo Tin Mừng Luca (22, 68). Cũng giống như Đức Yêsu, Stêphanô cầu xin ơn tha thứ cho những kẻ làm hại mình (7, 60) và phó thác linh hồn cho Đức Yêsu khi tắt thở (7, 59). Mối quan tâm của các văn sĩ Kitô giáo sơ khai là cho thấy mối nối kết rõ ràng giữa cái chết của Stêphanô và cái chết của Đức Yêsu. 

 

2) Đời sống của họ thì được tác động bởi Thần Khí của Đức Yêsu Phục Sinh.[60] Thật vậy, Phaolô khi mô tả về sự sống trong Thánh Thần, dường như đã đụng đến cốt lõi của bất cứ định nghĩa nào về linh đạo Kitô giáo.[61] Theo ông, khi ta có một sự nhận hiểu sâu sắc về Thiên Chúa-Ba Ngôi và về mối quan hệ của mình với Ngài, thì cung cách sống của ta hoàn toàn được biến đổi bởi chính Thần Khí của Đức Yêsu Phục Sinh.

Trong thư Rôma 12,2 (“Anh em đừng có trở nên đồng hình sâu xa với đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tinh thần,”),[62] Phaolô đã nói đến chính ảnh hưởng của đời sống linh đạo này làm cho chúng ta, vượt quá cái rập khuôn[63] bên ngoài, để (i) Một đàng phải ý thức để không trở nên một sự đồng hình sâu xa (συσχηματίζεσθε, conformed) với thế gian, không để cho mình gắn bó sâu sắc với thế lực ngoại lai (=  đời này hay thế gian); và không để cho nó kiểm soát.[64] (ii) Đàng khác, phải cải biến hay biến luyện (μεταμορφοῦσθε, transformed) [65] bằng cách đổi mới hay canh tân (ἀνακαίνωσις, newness) tâm thức (νους, mind).[66]

 

3. Trong Linh Đạo Kitô Giáo, Canh Tân Là Đồng Hình Đồng Dạng Với Đức Kitô Phục Sinh

1) Trong nhiều thư của ngài, Phaolô đã giải thích sự canh tân hay đổi mới đó chính là sự đồng dạng với hình ảnh của Đấng Phục Sinh, nhờ vào Thần Khí.

(i) Trong 2 Cr 3,18 [67] PVGK: “Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu (κατοπτριζόμενοι)[68] vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên (μεταμορφούμεθα)[69] giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.”

Dân Israel xưa chỉ thấy vinh quang Thiên Chúa qua bức màn che của Môsê, nay chúng ta thấy Ngài rực rỡ qua chính người

 

Con Một của Ngài, vì Ngài chính là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1,15). Và khi chiêm ngắm Ngài, người môn đệ ngắm nhìn tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Ngài, vinh quang của Thiên Chúa Cha như Phêrô đã ghi nhận trải nghiệm của các môn đệ trên núi biến hình của Thầy Yêsu, vì chính Ngài “đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự” và những điều mà ông ghi nhận cũng “chính là nhờ Thánh Thần thúc đẩy” Cf. (2Pr 1,16-21).

 (ii) Titô (3,5)[70]: “Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Ngài thương xót, nên Ngài đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới.”

Phaolô nói đến chính nhờ phép rửa của sự tái sinh và canh tân trong Thần Khí mà chúng ta được cứu rỗi. Sự tái sinh [71] là vừa của con người nội tâm, thiêng liêng, điều mà Đức Yêsu nói với Nicôdêmô “không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên,"(Ga 3, 3), đồng thời cũng nói đến sự phục hưng của một thế giới và hơn nữa sự canh tân nó để trong tương lai nó trở thành một trời mới đất mới, nước Trời mai hậu.  Đó cũng chính là “sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp”mà Ngài đã hứa cho những ai bước theo Ngài. (Cf. Mt 19, 28).[72]

(iii) Thư Rôma (8,29) [73]  cũng nêu lên tương tự sự cải biến này: một sự đồng hình đồng dạng[74] với hình ảnh (συμμόρφους τῆς εἰκόνος) Con của Thiên Chúa, “để Con của Ngài làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc.”

Sự đồng hình đồng dạng (συμμορφίζομαι) với Đức Yêsu mà người môn đệ muốn mặc lấy vào con người mình không phải chỉ là ngoại hình, Phaolô còn cho thấy ý nghĩa thiêng liêng: đó là sự chia sẻ một sự giống nhau,[75] lấy hình dạng của,[76] trở nên giống như[77] và có thể giống đến chết như Thầy của mình trên thập giá. Thật vậy, ở Philiphê 2,6-7, Phaolô khi nói đến Đức Yêsu mặc dầu là hình ảnh Thiên Chúa (= ὃς ἐν μορφῇ θεοῦ ὑπάρχων, c. 6), nhưng tự đã hóa ra không (ἐκένωσεν), mặc lấy hình dạng nô lệ (μορφὴν δούλου λαβών, c. 7), và đã hạ mình, vâng lời cho đến chết, chết trên thánh giá. Người môn đệ thì không hơn thầy mình.

 

2) Điều đó nói lên rằng đời sống Kitô hữu mang tính cộng đồng rất sâu xa.[78] Nhà thần học Milligan tóm kết rất hay tính cộng đồng này. Bà cho rằng, người Kitô hữu 

 

Được định vị trong một cộng đoàn đức tin nhận  Thiên Chúa là Cha của mình, và Đức Yêsu là trưởng tử cùng với nhiều anh chị em có liên đới với đời sống mình, và tất cả được mời gọi phụng thờ Thiên Chúa trong tư cách một gia đình của Ngài. Được soi sáng bởi Thánh Kinh và truyền thống, cộng đoàn các tín hữu nhận cả Thánh Kinh Do Thái lẫn Tân Ước như  Lời mạc khải của Thiên Chúa và, do đó, như là nền tảng của linh đạo Kitô giáo. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng linh đạo Kitô giáo thiết yếu có tính Ba Ngôi, có tính Kitô học, Giáo Hội học, có tính phụng vụ và Thánh Kinh.[79]

 

Như vậy, những trải nghiệm cá nhân được chia sẻ trong cộng đồng chúng ta luôn luôn là một cội nguồn đông lực quí báu. [80]

 

Kết Luận:

1) Linh Đạo Kitô Giáo diễn tả  "ý nghĩa sâu xa" của đời sống chúng ta và mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa-Ba Ngôi, từ kinh nghiệm  thiêng liêng của Đức Yêsu; kinh nghiệm này có trọng tâm ẩn tàng là mối quan hệ hiếu thảo của Ngài với Chúa Cha và mầu nhiệm Vượt Qua của cái chết và sự phục sinh của Ngài. Mỗi Kitô hữu, được Chúa Thánh Linh hướng dẫn trong tình huống cụ thể của mình, cố gắng tái tạo lại kinh nghiệm thiêng liêng của Chúa Giêsu.

Linh Đạo Kitô giáo phát triển trong một hệ thống các mối quan hệ có nguồn gốc trong Chúa Giêsu: mối quan hệ với Thiên Chúa-Ba Ngôi, Cha, Con và Thánh Thần, với thế giới được xem là Vương Quốc Thiên Chúa, Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Kitô và những người khác và chúng ta, những người anh chị em,  xem Đức Yêsu là Trưởng Tử mọi loài, và chúng ta là những đàn em đông đức của Ngài có cùng Chúa Cha.

 

B. LINH ĐẠO LA SAN Và BA NGÔI

 

1. Linh Đạo La San Như Là Một Diễn Tả Cụ Thể Trong Lịch Sử Linh Đạo Kitô Giáo[81]

1) Đó là một cung cách sống Linh Đạo Kitô giáo trong viễn tượng hay theo tính đặc thù của tinh thần Dòng và đặc sủng của  La San. Linh Đạo La San cũng như mọi linh đạo các Dòng Tu, không phải là một  cái gì "cộng thêm" vào Linh Đạo Kitô giáo. Câu hỏi sau đây đôi khi nảy sinh đó là sự vô nghĩa: "Đối với con người La San, điều gì là trước tiên, Linh Đạo Kitô giáo hay là Linh Đạo La San?"

Đặt câu hỏi kiểu đó tựa như giả định có hai linh đạo độc lập phải được thực hiện, trong khi thật sự chỉ có một: Linh Đạo Kitô giáo được sống trong một viễn cảnh toàn cầu nhất định. Linh Đạo La San, như bất kỳ Linh Đạo Dòng Tu nào khác như Phan Sinh, Carmel, hay Linh Đạo Giáo Dân,...là một cung cách sống đặc sủng Linh Đạo Kitô giáo. Mỗi một trong số các đặc sủng này tương ứng với cách sống hiệp thông cho một sứ mạng và đặc biệt làm nổi bật một số khía cạnh của Linh Đạo Kitô giáo tùy theo sự phục vụ của sứ mạng này.

               

2) Linh Đạo La San giúp chúng ta khám phá ra phận vụ giáo dục và sống nó như một nơi ưu tuyển của mối quan hệ của nhà giáo dục với Thiên Chúa-Ba Ngôi. Nó được phát triển như "một linh đạo trung gian" bởi vì nó làm cho chúng ta khám phá ra rằng chúng ta chỉ là những công cụ và thừa tác viên của Thiên Chúa trong công việc cứu rỗi của Ngài cho người trẻ, là các vị đại sứ của Đức Yêsu Kitô, và là lời sống động của Thiên Chúa Cha đối với những người mà đức vâng phục sai chúng ta đến.

 

3)  Tinh thần đức tin (hoặc nếu bạn thích "tinh thần đức tin và lòng nhiệt thành) là trái tim của Linh Đạo La San. Chúng ta có thể nói rằng chính từ hạt nhân này, hoặc được phát sinh từ nó, mà linh đạo La San sẽ dần dần được hình thành. Được thúc đẩy bởi tinh thần đức tin, chúng ta có thể khám phá Thiên Chúa Cha và xem cách Ngài mạc khải thế nào cho chúng ta trong cánh đồng sứ vụ đón nhận được, khi Ngài mời gọi mỗi anh em chúng ta đi gặt hái trong cánh đồng lúa chín của Ngài, (Cf. Lc 10,1-9; Mt 9,37-38),  là thế giới của các trẻ nghèo và thanh niên trước những nguy cơ của cuộc sống.

 

4) Được soi sáng bởi tinh thần này, chúng ta đọc lại câu chuyện lịch sử cứu độ hàng ngày của chúng ta như một câu chuyện về sự cứu rỗi và chúng ta tìm thấy trong Ba Ngôi-Thiên Chúa, ý nghĩa tối hậu của những gì chúng ta làm.

Kinh nghiệm "trọng tâm" Kitô giáo này là kinh nghiệm về tình yêu Thiên Chúa-Ba Ngôi. Sống cụ thể kinh nghiệm sâu sắc này với tinh thần đức tin và lòng nhiệt thành, trong sứ mạng giao phó cho chúng ta, đưa dẫn chúng ta ngày qua ngày làm phát triển Linh Đạo La San, một linh đạo sẽ được làm phong phú hơn ngay chính danh tính của nó, từ những lịch sử cá nhân (ví dụ những thánh  nhân), những cuộc sống thường nhật của từng Anh Em và Đối Tác La San, từ những cộng đoàn, và những dấu chỉ và biểu tượng trong cuộc sống (như những kỷ niệm lịch sử...).

Và như thế, chúng ta sẽ cảm nhận mình sau đó, thanh thản và tìm được ý nghĩa hơn trong những cung cách cầu nguyện và dễ nhận biết mình hơn khi trực diện với Lời Chúa.[82]

 

2. Trong Linh Đạo La San Tất Cả Là “Frère” Của Trưởng Tử Yêsu

1) Ngay từ trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo, đời sống thánh hiến đa phần là do các thành viên giáo dân đảm nhận như là cách diễn tả niềm khao khát của những người nam người nữ ao ước sống Tin Mừng triệt để được đề nghị cho mọi người bước theo Đức Giêsu. Ngay cả hôm nay, các thành viên trong đời sống thánh hiến-nam và nữ, cũng là thành phần đa số.[83]

 

2) Lới hiện hữu của Frère có ý nghĩa trong cộng đoàn Giáo Hội theo đó F. là ký ức ngôn sứ về Đức Giêsu, người Anh Cả,[84] người đã truyền cho các môn đệ của mình ”tất cả các ngươi đều là anh em” (Mt 23,8).[85]

Và theo Marcô Ai làm Lớn là làm Tôi Tớ (diakonos) và Ai làm Đầu là làm Nô Lệ (= doulos) (Cf. Mc 10,43-44 ).

Tước hiệu F. nhấn mạnh phẩm giá chung và sự bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu. F. là người con với Đức Kitô, Chúa Con như là Người Anh Cả giữa một đàn em đông đúc có cùng một Cha trên trời (Cf. Mt 5,45), được mời gọi hình thành nên một tình huynh đệ phổ quát trong Chúa Kitô (Cf. Rm 8,29).

F. qua việc tham dự vào mầu nhiệm cứu rỗi của Chúa Kitô và Giáo Hội, là những lời nhắc nhở thường tồn cho toàn thể dân Kitô hữu về tầm quan trọng của việc hoàn toàn dâng hiến cho Thiên Chúa-Ba Ngôi và là lời nhắc nhở rằng sứ mạng của Giáo Hội, tuy vẫn tôn trọng các ơn gọi và tác vụ khác nhau trong đó, chỉ có một mà thôi và đều được mọi người chia sẻ.

 

3. Frère Trong Giáo Hội Hiệp Thông Huynh Đệ, Hình Ảnh Ba Ngôi

“Ta đã chọn ngươi làm giao ước cho muôn dân” (Is 42, 6)

 1) Cuộc canh tân do Công Đồng Vatican II mang lại qua những thúc đẩy của Chúa Thánh Thần Lễ Hiện Xuống, đã soi sáng cho Giáo Hội hiểu được cốt lõi của chính sự hiện hữu của mình, được tỏ lộ như mầu nhiệm hiệp thông. [86] Mầu nhiệm đó là kế hoạch Thiên Chúa cứu rỗi nhân loại,[87] được triển khai ra thành câu chuyện về giao ước.

Vì thế, cội nguồn của mầu nhiệm này không nằm trong chính Giáo Hội, nhưng trong Chúa Ba Ngôi, trong sự hiệp thông của Chúa Con với Chúa Cha và trong ân ban của Chúa Thánh Thần. Sự hiệp thông này là mô hình, cội nguồn và đích điểm của sự hiệp thông mọi Kitô hữu (i.e. mọi La San) với Chúa Kitô; và từ đó phát sinh thành sự hiệp thông giữa chính những Kitô hữu (La San) với nhau.[88]

 

2) Đời tu nằm ở ngay trong lòng Giáo Hội, như các giáo phụ thường lên tiếng, và đời sống thánh hiến là yếu tố then chốt cho sứ mạng của Giáo Hội,[89] và chúng ta được mời gọi phải nhìn vào trung tâm đó để khám phá và hiểu chính mình để tránh xa cái nhìn cục bộ.

Con người La San chúng ta tìm thấy ở đó ý nghĩa sâu xa của ơn gọi mình.

“Đáp lại lời gọi riêng của Chúa Thánh Thần, F. dâng hiến trọn vẹn cho Ba Ngôi Rất Thánh; vì lẽ ấy, F. liên kết với nhau để làm sáng danh Thiên Chúa-Ba Ngôi trong thừa tác vụ giáo dục Kitô Giáo.”[90]

 

Khi chiêm ngắm như thế, chúng ta được soi dẫn qua hình ảnh của Người Tôi Trung của Đức Chúa mà Isaia đã mô tả, người được Thiên Chúa phán: “Ta đã làm cho ngươi trở nên giao ước với dân” (Is 42, 6). Dung mạo này được phản ánh hoàn hảo nơi Đức Yêsu Thành Nazareth, Đấng đã đóng ấn giao ước mới bằng máu của mình và đã kêu gọi những ai tin vào Ngài hãy tiếp tục nhiệm vụ được ủy thác cho người tôi tớ, làm giao ước với dân,

Căn tính làm trung gian của Người Tôi Tớ Đức Chúa có một tầm ý nghĩa mang tính cá vị cũng như là tính hiệp thông, vì nó liên quan tới số sót của Israel, dân Thiên Sai, mà Công Đồng nói rằng đã “được Chúa Kitô thiết lập như là sự hiệp thông đời sống, đức ái và chân lý, và cũng được ngài sử dụng như là khí cụ để cứu chuộc mọi người, và được sai đi trên toàn thế giới như là ánh sáng cho thế gian và là muối cho đời (Cf. Mt 5, 13-16).[91]

 

3) Là thành phần của dân và sứ mạng của dân, Anh Em La San sống ơn gọi của bản thân mình, như là lời nhắc nhớ về giao ước qua sự thánh hiến cho Thiên Chúa-Ba Ngôi trong đời sống huynh đệ của một cộng đoàn hướng đến sứ mạng.[92] Như thế, con người hiện sinh của F. làm cho sự hiệp thông của toàn bộ Dân Thiên Chúa được mời gọi nhập thể được nên hữu hình hơn.

 

4. Là Frère Trong Sự Hiệp Thông Với Dân Thiên Chúa Là Những Người Trẻ Bị Bỏ Rơi

1) Là F. La San, chúng ta tìm thấy môi sinh tự nhiên của mình trong bối cảnh hiệp thông, qua bản chất mình thuộc về Dân Thiên Chúa nhờ qua phép rửa. Và chúng ta cũng được kết hiệp với tất cả những ai, qua sự thánh hiến tu trì, phản ánh yếu tính của Giáo Hội là mầu nhiệm hiệp thông. Trong đó, họ duy trì thật sống động bổn phận làm huynh đệ của nhau như là lời tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi.[93]

 

2) Các mối dây hiệp thông của mỗi Anh Em La San vượt quá các biên cương của Giáo Hội, vì họ được thúc đẩy bởi cùng một “tính cách phổ quát vốn làm cho Dân Thiên Chúa nổi bật.”[94]

Ơn gọi của một F. La San là một phần câu trả lời Thiên Chúa ban cho trước sự thiếu vắng tình anh em vốn đang làm thương tổn thế giới ngày hôm nay. Cội rễ ơn gọi của mỗi tu sĩ La San là kinh nghiệm thâm sâu về tình liên đới mà cách cốt yếu đã làm cháy bừng lên kinh nghiệm của Môsê trước bụi gai cháy lửa: ông đã khám phá mình trở thành con mắt, đôi tai và con tim của Thiên Chúa Cha, một vị Thiên Chúa thấy dân Ngài bị áp bức, nghe được tiếng khóc than của họ, cảm được nỗi uất hận và đi xuống để giải phóng dân. Trong kinh nghiệm thiết thân này, Môsê nghe được tiếng mời gọi: “Hãy đến, Ta sai ngươi đến Vua Pharao để đem dân Ta ra khỏi Ai Cập” (Xh, 3, 7-10).[95]

3) Đối với chúng ta ngày nay, tiếng của Đức Chúa đã nói trước tiên với tổ phụ Yoan La San, cũng cùng một luận điệu ấy: “Ta đã thấy những cảnh khốn cùng nhân bản và thiêng liêng của con em thợ thuyền và người nghèo. ‘Hãy đến, Ta sai Ngươi và những người Anh Chị Em của ngươi đến Thế Giới của những trẻ thơ và người trẻ để đem họ ra khỏi Cảnh Khốn cùng xa đường cứu độ.’”[96]

Thánh Gioan La San trước tiên và sau đó các Anh Em tiên khởi của Ngài, đã đáp lại tiếng Ba Ngôi-Thiên Chúa kêu gọi, qua chính lời khấn của họ, để hiến mình suốt đời cho Ba Ngôi- Thiên Chúa nhằm đem lại cho những trẻ này một nền giáo dục nhân bản và Kitô Giáo, và như thế, mở rộng vinh quang Thiên Chúa Cha trên trần gian.

Thật vậy, “qua việc dâng hiến trọn cuộc đời, Sư Huynh biểu lộ lòng tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa dành cho mình và cho những ai được trao phó cho mình. Sư Huynh tìm thấy trong thừa tác vụ và trong tình yêu này những động lực nền tảng cho việc thánh hiến và thánh hóa của mình.”[97]

Cùng với tổ phụ Yoan La San, Tu Sĩ La San đã

 

cải tổ loại hình trường lớp vào thời bấy giờ để người nghèo có thể học được, và biến việc học thành một dấu chỉ Triều Đại Thiên Chúa cho mọi người và là một phương tiện của ơn cứu rỗi.[98]

 

Ngoài ra, chiều kích hiệp thông huynh đệ còn liên kết chặt chẽ mỗi con người tu sĩ La San ngày nay trong một thế giới toàn cầu hóa, với một cảm thức nhạy bén về tất cả những gì ảnh hưởng đến những người bất hạnh nhất trong dân; những người nghèo không có tiếng nói trong xã hội, những người mà đồng loại nhìn xem là vô ích, “hàng bị thải ra” hoặc những người bị “áp bức dưới những hình thức khác nhau, bị bỏ qua bên lề lịch sử và sự tiến bộ, những người khó có được kinh nghiệm về Tin Mừng Thiên Chúa Cha yêu thương trong cuộc đời của họ vì không ai bỏ chút thì giờ để nói với họ về một vị Thiên Chúa thương xót như thế nào.[99]

 

4) Sự thánh hiến cho Thiên Chúa- Ba Ngôi như là tu sĩ, làm cho F. cảm thấy cần phải sống qua tất cả chiều kích của cuộc sống hiện sinh như là lời chứng về Thiên Chúa tuyệt đối,[100] và cũng như là tiến trình mở ra cho Thiên Chúa và con người trong ánh sáng Tin Mừng, là lời kêu gọi mọi anh chị em Kitô hữu, cũng tiến bước theo Thầy Yêsu,  mỗi người định hướng cuộc đời mình sống theo con đường triệt để, trong những hoàn cảnh và bậc sống khác nhau, mở lòng đón nhận những hồng ân và lời mời gọi của Chúa Thánh Thần.[101]

Bậc sống huynh/đệ của các anh em La San là lời khích lệ cho toàn thể Giáo Hội, đặc biệt cho các Đối Tác và sinh viên học sinh của chúng ta, bởi lẽ nó làm cho giá trị Tin Mừng về mối tương quan huynh đệ bình đẳng được hiện diện chống lại với cám dỗ thống trị, tìm những chỗ tốt nhất hoặc thực thi quyền bính như là quyền hành:

 

Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "rabbi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô. Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23, 8-10).

 

Ngày nay, tình hiệp thông được Giáo Hội đề xuất như là một thách đố đặc biệt đầy sức ép trong thiên niên kỷ mới đây, để Giáo Hội được biến cải thành mái nhà và trường học dạy hiệp thông.[102]  Các Anh Em (là Frères) là những thành viên sống tích cực trong gia đình La San rộng lớn, gồm rất nhiều thành phần này. Chúng ta và mọi anh em khác vừa là học viên vừa là thày dạy; đó là lý do tại sao Anh Em đảm nhận cho mình một cách thật cấp thiết điều Giáo Hội đề xuất, sống và cổ võ một linh đạo hiệp thông.[103]

 

5. F. Là Con Tim và Ký Ức Trong Gia Đình La San

1) Trước tiên như tông huấn Vita Consecrata thường nhắc nhớ, phận vụ của chúng ta như là tu sĩ được triển khai trong Giáo Hội là “gợi nhắc người được thánh hiến qua phép rửa về những giá trị căn bản của Tin Mừng” và “nhu cầu cần phải đáp trả với đời sống thánh thiện tình yêu Thiên Chúa đổ đầy lòng chúng ta bởi Chúa Thánh Thần (Cf. Rm 5,5).[104] Mọi việc phục vụ và tác vụ khác của cá nhân anh em chúng ta thật sự chỉ có ý nghĩa khi được cắm rễ trong tác vụ nền tảng này.

 

2) Là dấu chỉ ngôn sứ, đời sống tu sĩ của chúng ta không hiện hữu “cho chính mình.” Là người thánh hiến cho Thiên Chúa-Ba Ngôi, người tu sĩ La San tự thân là một biểu thị đời sống như là lời chứng về Thiên Chúa tuyệt đối,[105] và cũng như là tiến trình mở ra cho Thiên Chúa và con người trong ánh sáng Tin Mừng. Vì thế, bản thân cuộc sống của từng A/E chúng ta, trong viễn tượng tổng quát, là lời kêu gọi mọi Kitô hữu biết định hướng cuộc đời mình sống theo con đường triệt để, trong những hoàn cảnh và bậc sống khác nhau, mở lòng đón nhận những hồng ân và lời mời gọi của Chúa Thánh Thần.[106] Đồng thời, A/E La San còn chú tâm vai trò ký ức về tình thương nhân hậu của Chúa Cha vừa là con tim thương cảm vô bờ của Thầy Yêsu, đã yêu những người nhà của mình và yêu đến cùng (Ga 13,1). Và nếu tình huynh đệ giữa A/E với nhau và với các người trẻ được trao cho A/E chăm sóc là nguồn sức mạnh cho sứ mạng, nhưng nó lại dựa trên một sức mạnh khác: Chúa Thánh Thần. Ngài ngự xuống trên mỗi A/E chúng ta khi chúng ta quy tụ lại với nhau trong cộng đoàn tựa như trong ngày Lễ Hiện Xuống Ngài đã ngự xuống các môn đệ và sau đó Ngài sai họ lên đường ra đi làm chứng nhân (CV 2, 1 tt).

 

6. Căn Tính La San: Một Mầu Nhiệm Hiệp Thông Với Ba Ngôi Cho Sứ Vụ

Đời sống của người môn đệ ở trong thế gian sâu xa còn có lý do để vẫn sống trong niềm hoan hỉ và chúc tụng Chúa Cha không ngơi trong đền thánh của Ngài.

 

1) Một Giao Ước Tình Yêu” Với Hai Icons “Sacramentum et Exemplum”[107]

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nhân dịp Năm Thánh mừng ơn cứu chuộc (1983-1984), kỷ niệm 1500 năm biến cố Thập Giá và Phục Sinh, ngài đã viết tông thư Hồng Ân Cứu Độ [108] cho những người sống trong đời thánh hiến, trình bày mối liên hệ giữa sự tận hiến tu trì và mầu nhiệm cứu chuộc. Ngài không ngừng mời gọi các tu sĩ hãy khám phá những chiều kích thần bí sâu xa của đời sống của họ.

Ngài gọi đời sống tận hiến này là một “giao ước tình yêu” với Chúa Cha, trong Đức Kitô, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.[109] Qua giao ước đó, người tu sĩ đi sâu vào mầu nhiệm cứu độ, chia sẻ với Chúa Cha và Đức Kitô mối ưu tư về việc cứu rỗi nhân loại và tham gia vào sứ mạng tông đồ của Giáo Hội. Việc tận hiến qua hành động tuyên giữ ba lời khuyên Tin Mừng biểu lộ việc thông dự vào mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô.[110]

 

2) Được thánh hiến cho Thiên Chúa Ba Ngôi, F. La San sống liên kết cho sứ mạng.[111]Và đời sống huynh đệ trong cộng đoàn là một ân huệ của Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt từng người vượt qua xu hướng quy về bản ngã. Khi đón nhận ơn này, cộng đoàn triển nở một linh đạo hiệp thông. Như vậy, Giáo Hội và rồi Hội Dòng, đã trải nghiệm rằng mình được hình thành như là một dân có tác vụ được Đức Yêsu ủy thác. Và chính vì chiêm ngắm tác vụ này mà người sống đời thánh hiến như người môn đệ ‘sequela Christi’ đã tìm thấy nơi lời hứa của Thầy Yêsu: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20) niềm tin vững mạnh rằng “tuy dấn thân trong lòng đời nhưng không hề thuộc thế gian.”[112] Họ tìm thấy nơi hai icons (linh tượng) Sacramentum et Exemplum được các thánh sử biểu thị việc thành lập tác vụ Giáo Hội: (i) Ba sách Tin Mừng Nhất Lãm chọn icon Đức Yêsu bẻ bánh và trao Mình và Máu của Ngài cho các môn đệ, trong khi đòi hỏi họ: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thày” (Lc 22, 19). Và (ii) một cách khác, Tin Mừng Yoan trình bày cho chúng ta icon Đức Yêsu quấn khăn thắt lưng, rửa chân cho các môn đệ và sau đó yêu cầu họ: ”Thầy đã làm gương cho anh em để anh em làm theo những gì thầy đã làm cho anh em” (Ga, 13, 14-15).

 

3) Trong ý thức của Giáo Hội, tức trong ánh sáng của linh tượng rửa chân mà linh tượng kia, theo đó Đức Yêsu trao ban Mình và Máu Ngài, có được ý nghĩa trọn vẹn.

Nghĩa là, lệnh truyền anh em hãy yêu thương nhau đem lại cho chúng ta chìa khóa hiểu được ý nghĩa của Phép Thánh Thể trong Giáo Hội. Điều này được phản ảnh trong phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh.

 

4) Chứng từ Giáo Hội nhận lãnh từ Đức Yêsu đã chỉ ra hai khía cạnh hay chiều kích của tác vụ cứu rỗi được triển khai trong Giáo Hội qua những tác vụ chuyên biệt khác nhau.

(i) Một đàng, qua chức linh mục phục vụ (thừa tác vụ bí tích, sacramentum), được một bí tích riêng thiết lập, Giáo Hội bảo đảm lòng trung thành với việc nhớ đến Đức Yêsu chịu nộp mình, cái chết và sự phục sinh của Ngài và làm cho việc nhớ đến này thành hiện tại trong Phép Thánh Thể: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19).

(ii) Đàng khác, Thần Khí khơi dậy nơi các Kitô hữu việc nhớ lại Đức Yêsu biểu lộ qua thái độ phục vụ và tính cấp thiết của lệnh truyền của Ngài: “Cứ dấu này mà mọi người nhận biết anh em là môn đệ Thầy” (Ga 13, 35); “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em (Ga 13, 15).

Như thế hai hình ảnh tưởng niệm ngôn sứ ngang nhau Lc 22,19 = Ga 13,15.

 5) Trước tiên Icon Thánh Thể. Theo Đức Benedict XVI, “Bí Tích Thánh Thể là tiến trình hữu hình cho sự kiện kết hợp,” nơi con người gặp gỡ nhau trong niềm vui và chúc tụng Thiên Chúa- Ba Ngôi trong đền thờ của Ngài. Trong mỗi  locus hội tụ này cũng như vượt biên bờ mọi nơi chốn, mọi hàng rào ngôn ngữ, sắc tộc, quốc gia,…, tiến trình này mời gọi người tham dự bước vào hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi hằng sống, Đấng từ nội tại, lôi kéo mọi người đến với nhau trong sự hiệp thông huynh đệ. Đức Yêsu đã hứa như thế: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi “ (Ga 12,32). Nhờ Thập Giá là điểm tựa Đức Yêsu đã lôi kéo mọi người đến cùng Ngài và như thế con người có thể đi vào hiêp thông với nhau trong Ngài.

Và cũng chính vì lý do này mà Giáo Hội được hình thành từ Bí Tích Thánh Thể. Giáo Hội lãnh nhận từ nơi Bí Tích (Sacramentum) sự hiệp nhất và sứ vụ của mình. Nói cách khác, Giáo Hội đến từ Tiệc Ly, nơi Thân Mình của Đức Chúa được chia sẻ và Máu của Ngài đổ ra vì muôn người mà Giáo Hội cũng đến từ cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô và cho chúng ta những con cái của Giáo Hội nhờ Ngài mà chúng ta được tiền dự vào sự tự hiến Mình và máu Ngài[113]

 

6) Tiếp theo Icon Rửa Chân mà Thánh Gioan vẽ cho chúng ta vào bữa Tiệc Ly của Thứ Năm Tuần Thánh, được khởi đầu bằng những nét chấm phá ghi đậm nét câu chuyện với những lời quả quyết long trọng và đầy tình thân ái như sau:

 

Trước Lễ Vượt Qua, Đức Yêsu biết giờ của Ngài giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng.                      (Ga 13,1)

Hai hình ảnh chính yếu nói lên giờ quyết liệt và long trọng: giờ exodus (vượt qua, metabasis)[114] từ thế gian về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng (agapè). Theo Đức Benedict XVI,

 

Hai ý niệm này soi rọi cho nhau và không thể tách rời. Tình yêu đích thực là tiến trình bước qua,[115] biến đổi, bước ra khỏi những giới hạn của nhân loại sa ngã - trong đó tất cả chúng ta tách rời nhau và tột cùng vô thấu với nhau – để đi vào tha tính vô biên[116]. “Yêu đến cùng” đó là đưa đến sự vượt qua (metabasis) tưởng chừng không thể hiện thực được: là bước ra khỏi những biên bờ của cá nhân tính khép kín, đó là điều agapè - vượt qua để đến cõi thần  linh.[117]

 

 Kết Luận

1) Từ đấy, nhiều đoàn sủng đã được khơi dậy giữa các Kitô hữu để phát triển sự hiệp thông qua việc phục vụ huynh đệ.

 

F. La San thi hành thừa tác vụ trong tình hiệp thông với Giáo Hội, đặc biệt với những ai cùng chia sẻ sứ mạng giáo dục với mình. Đối với họ, Frère là chứng nhân cho chân giá trị và vẻ huy hoàng của sự dấn thân cho công cuộc giáo dục, cho mối quan tâm đến giới trẻ, nhất là giới trẻ nghèo.[118]

 

Đó là cách mà ơn cứu độ đến với những người nghèo khổ: người mù thấy được, người què đi được, tù nhân được thả về,  người trẻ được giáo dục, người ốm đau già cả được chăm sóc.[119] Tình bác ái huynh đệ được hiện thực qua nhiều việc phục vụ, mà nhiều việc trong số đó đã được xác nhận thành định chế hoặc được công nhận như là thừa tác vụ mà Giáo Hội đã ủy thác cho các cộng đoàn hiến thánh.[120]

 

2) Đời sống thánh hiến được nảy sinh trong Giáo Hội khi con người nam và nữ đã đáp trả tiếng gọi của Thần Khí kêu gọi các Kitô hữu gìn giữ sống động ký ức về tình yêu Chúa Kitô, Đấng đã yêu thương các môn đệ của Ngài cho đến cùng.[121] Việc đáp trả này được diễn tả qua nhiều hình thức, nhưng sâu xa nhất, luôn luôn có một chọn lựa “tận căn dâng hiến bản thân vì tình yêu Đức Yêsu và trong Ngài, yêu mến mọi thành viên trong gia đình nhân loại.”[122]

 

3) Ơn gọi và căn tính của các Dòng Giáo Dân: các Nữ Tu/Sư Huynh, đạt được ý nghĩa trong sức năng động này, vừa là bao trùm và vừa là bổ sung cho các thừa tác vụ khác, nhưng cũng cần và cổ võ những dấu chỉ mang tính ngôn sứ.

 

 

 H. “Sự Vươn Lên Của Các Tâm Hồn Rực Lửa”

 

Tài Liệu Tham Khảo

 

Alphonso, Herbert. “Docility to the Spirit: Discerning the Extraordinary in the Ordinary.” Spirituality and Morality. Integrating Prayer and Action. Eds. Dennis J. Billy & Donna L. Orsuto, 1995.

Aumann, Jordan. Christian Spirituality in the Catholic Tradition. San Francisco: Ignatius Press, 1985. trans. Lê Công Đức. “Linh Hướng.” Website  simonhoadalat.com.

<http://www.simonhoadalat.com/HocHoi/MucVu/71LinhHuong.htm>.

---. Spiritual Theology. Manila: Santo Tomás University, 1989.

Bourke, Myles M. “The Epistle to the Hebrews, Commentary. Introduction 1, 1-4.” The New Jerome Biblical Commentary, Part Two. Eds. Raymond E. Brown, Joseph A. Fitzmyer & Roland E. Murphy. London: Geoffrey Chapman, 1990.

Bernard, P. R. Le Mystère de Jésus, tome 2. Mulhouse: Éditions Salvator, 1959.

Bez, Felipe. “Linh Đạo Truyền Giáo.” Họp Tuyển Thần Học. Web. 3/11/2016.

<http://www.htth.org/so32/linh%20dao%20truyen%20giao.htmL>.

Bùi Văn Đọc. “Bước Theo Thần Khí.” Học Hỏi Thần Học. Web. 2/11/2016. <http://www.simonhoadalat.com/HocHoi/ThanHoc/ChuaThanhThan/Chuong13.htm.>

Bouyer,  Louis et al. A History of Christian Spirituality (3 vols). London: Burns&Oates, 1968.

Chan, Simon. Spiritual Theo­lo­gy: A Systematic Study of the Christian Life. Downers Grove: InterVarsity Press, 1998.

Cullmann, Oscar. The Christology of the New Testament. Philadelphia: Wesminter Press, 1963.

Day, Dorothy. The Long Loneliness: The Autobiography of Dorothy Day. San Francisco: Harper & Row, 1981.

Đinh Tiến Hưng. “Những Nẻo Đường Tâm Linh - Linh Đạo Của Các Ẩn Sĩ Sa Mạc.” http://catechesis.net/.

Eagleson, John & Philip Scharper, eds. “Loan Báo Tin Mừng tại Châu Mỹ La Tinh Hôm Nay và Tuơng Lai.” Tài Liệu Đúc Kết của Hội Nghị Lần Thứ 3 Các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh. Puebla de Los Angeles, Mexico. (27/1–13/2, 1979). Puebla and Beyond, N.Y. : Orbis Books. Maryknoll, 1979.

Frédien Charles. L’Oraison d’après Saint Jean Baptiste de la Salle. Paris: Ligel, 1954.

FSC. “Luật Dòng (LD) Bản 2015.” The Rule of the Brothers of The Christian Schools (The Revised of 2015). Rome: FSC, 2015.

Gallacher, Patrick J., ed. The Cloud of Unknowing. University of Rochester, 1997.

Hàn Cư Sĩ. “Bàn Về Chay Tịnh.” Website Tin Mừng Net. Mùa Chay 2013. Web. 26/11/2016.

<http://tinmung.net/docgia/BaiViet/MuaChay/2013/Ban-ve-chay-tinh.htm>.

Hardon, John A. “Contemporary Spirituality.” Website philiptran.net. Web. 27/6/2011. <http://philiptran.net/read.php?418>.

Herbert, Alphoso. “Docility to the Spirit: Discerning the Extraordinary in the Ordinary.” Spirituality and Morality.  Eds. Denny J. Billy & Donna L. Orsuto. N.Y.: Paulist Press, 1996.

Hoàng Gia Quảng, FSC. “Linh Đạo La San là gì?” Web. 5/11/2016.

<https://lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=94>.

Gilbert, Daniel và Matthew Killingsworth. “A Wandering Mind Is an Unhappy Mind.” Science : vol. 330 (12/11/2010). Issue 6006: pp. 932. Web.21/11/2016.

<http://science.sciencemag.org/content/330/6006/932.full>.

Grasso, Giacomo & Charles Bonnet. “Spiritualité.” Dictionaire de Théologỉe Chrétienne. Ed. Joseph Doré. Paris: Desclée, 1979.

Julian of Norwich. (1966, tr. 72). Những Mạc Khải Của Tình Yêu Thiên Chúa Great Britain: Penguin.

Kroeger, James H. Living Mission: Challenges in Evangelization Today. N.Y.: Orbis Books, 1994.

<http://www.oldcottage.net/vuonthien/thiennghethuat/thienvavudieu.html>.

Lane, Dermot. The Experience of God. Dublin: Veritas Publications, 2003 (1981). trans. Nguyễn Luật Khoa. Kinh Nghiệm Thiên Chúa. Tp. HCM: NXB Phương Đông,  2003.

Loader, C.R.G. “Son of David, Blindness, Possession, and Duality in Matthew.” CBQ 44 (1982).

Lộc An Hà “Tìm hiểu Ơn Gọi, Giới Thiệu Chung Về Dòng Nữ Đa Minh Việt Nam.” Website Tìm Hiểu Ơn Gọi ngày 30/5/2011. Website 17/11/2018.

<http://www.binhgia.org/2011/05/gioi-thieu-chung-ve-dong-nu-minh-

Luttenberger, Gerard. H. An Introduction to Christology. In the Gospels and Early Church. N. Y.: Twenty-Third Publ., 2012 (2005). trans. Nguyễn Đức Thông. Dẫn Vào Kitô Học. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2011.

McGinn, Bernard & J. Meyendorff, eds. “Christian Spirituality: Origins to the Twelfth Century.” World Spirituality 16. N.Y.: Crossroad, 1987 (1985).

McGinn, Bernard. The Foundations of Mysticism. vol. I.  The Presence of God: A History of Western Christian Mysticism. N. Y.: Crossroad, 1991.

Merton, Thomas. “Letter to Dom Gabriel Sortais.” The School of Charity: The Letters of Thomas Merton on Religious Renewal and Spiritual Direction. N.Y.: Farrar, Strauss and Giroux, 1990.

---. New Seeds of Contemplation. N.Y.: New Direction, 1962.

Milligan, Mary. ”Linh Đạo Kitô Giáo.” Dẫn Vào Thần Học, 2008. Ed. Thomas Rausch. trans.  Lê Công Đức.

Moloney, F. J. ”The Gospel of John.” Sacra Pagina. Ed. Daniel J. Harrington. Minnesota: The Liturgical Press, 1998.

Moltmann, Jurgen. The Trinity and the Kingdom. Minneapolis: Fortess Press, 1993

Nguyễn Hữu Thy. “Sự Phát Trỉển của Giáo Hội.” VietCatholic News. 5/8/2009. Web. 4/11/2016. <http://vietcatholic.org/News/Html/67014.htm>.

<http://catechesis.net/index.php/than-hoc/tam-linh/1931-nhung-neo-duong-tam-linh-linh-dao-dong-nu-da-minh-tam-hiep>.

Nguyễn Văn Tài. “Chúa Yêsu và Phêrô.” Radio Veritas Asia. Philippines. Web. 28/11/2016.

<https://www.catholic.org.tw/vntaiwan/phero/16phero>.

Nguyễn Văn Ty. Sống Thần Khí. TP. HCM: NXB Phương Đông, 2016.

O’ Collins Gerald & Edward G. Farrugia. “Pelagianism.” A Concise Dictionay of Theology. (Revised and Expanded Edition). Quezon City: Claretian Publications, 1999. tr. 195. trans. Lưu Văn Hy. “Lạc Thuyết Pelagius.” Từ Điển Thần Học Giản Yếu. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2015.

Pannenberg, Wolfhart. Jesus, God and Man. London. 1968, tr. 334-349. Cf. Christoph Schwobel, 1994. tr. 261. “Wolfhart Pannenberg.” The Modern Theologians vol I. Ed. David F. Ford.

Phạm Quang Tùng. “Thánh Gioan La San Một Đời Cho Giáo Dục.” Website Giáo Phận Mỹ Tho. Web. 5/11/2016.

<http://giaophanmytho.net/giao-vien/thanh-gioan-la-san-mot-doi-cho-giao-duc-15025.html>.

Pierre Teilhard de Chardin. Le Milieu Divin. Paris: Editions du Seuil, 1927.

Presciuttini, Mario. “Nguyện Gẫm Trong Sự Hiện Diện với Chúa. Những Phương Thế Nuôi Dưỡng Đức Tin.” Lasalliana, 23-2-A-100. Web.21/11/2016.

<http://www.delasalle.org.nz/dox/232A100MeditationsofSt_JohnBaptistdelasalleii2.pdf.

Raitt J., ed. “Christian Spirituality: High Middle Ages and Reformation.” World Spirituality 17. N.Y.: Crossroad, 1987.

J. Ratzinger (Benedict). Đức Yêsu Thành Nazareth, Tập I. Hà Nội: NXB Tôn

Giáo, 2007.

Tillard, J. M. R. Appel Du Christ. Appels Du Monde. Les Religieux Relisent Leur Appel. Paris: Le Cerf, 1978. trans. Nhóm Liên Tu Sĩ Thành Phố (HCM). Ed. Nguyễn Hồng Giáo (1981). Vì Chúa Dấn Thân. (Thần Học Đời Tu). Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2013.

Wainwright, Jones, G. & E. Yarnold, eds. The Study of Spirituality. N. Y.: Oxford University Press, 1986.

Woods, Richard. Christian Spirituality: God’s Presence Through the Ages. Chicago: Thomas More, 1989.

---. “History of Christian (Catholic) Spirituality.” The New Dictionary of Catholic Spirituality. Ed. Michael Downey. Collegeville, Minnesota:The Liturgical Press, 1993. B. Dịch Thiên Phong. Lịch Sử Linh Đạo Kitô Giáo. Web. 3/12/2016.

Vital Luca Nguyễn Hữu Quang. Nhân Học Triết Học.(Chủ Nghĩa Hiện Sinh). TP. HCM: Signum Fidei Tu Thư, 2016.

---. Nhân Học Thần Học. TP. HCM: Signum Fidei Tu Thư, 2016.

---. Thiên Chúa Ba Ngôi và Mầu Nhiệm Phục Sinh. (draft 2, Hè). TP. HCM: Signum Fidei Tu Thư, 2014.

---. Dòng Dõi Nói Tiếng Fiat. 2010.

 

 

 

Ninnaji Kyoto Garden [123]

 


[1] D. Bonhoeffer. Prisoner for God. New York: Macmillan, 1959. tr. 123; Cf. Harvey Cox. The Secular City: Secularization & Urbanization im Theological Perspective. New York: The MacMillan Company, 1967, tr. 211.

[2] An umbrella and generic term.

[3] Diarmuid O'Murchu. Our World in Transition: Making Sense of a Changing World. Quezon City: Claretian Publications, 2003. tr. 58.

[4] A wholistic sense.

[5] D. O'Murchu. Op. Cit, tr. 57.s

[6] Cf. Antonio Botana. “Spiritualité. Lasallienne.” Vocabulaire Thématique De L’association Lasallienne.

[7] Cf. S. M. Schneiders. Religious Life in a New Millennium vol I: Finding the Treasure. New York: Paulist Press, 2000. tr. 340-342.

[8] The spiritual quest. Cf. S. M. Schneiders. Op. Cit. tr. 341.

[9] Cf. Albert Einstein (1954). Trích từ D. O’Murchú. “Spirituality: Daring New Horizons.” Spirituality. Essay 2. Web. 22/10/2018.

<http://www.diarmuid13.com/spirituality-essay-2>.

[10] Cf. S. M. Schneiders. Op. Cit. tr. 341.

[11] Xem những mâu thuẫn gây nên của nhiều giáo phái ngày nay.

[12] Cf. Vương Gia Thụy (1976); Charles Key (1995).

Dân số hiện tại của Việt Nam là 96.691.767 người vào ngày 17/09/2018 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. <https://danso.org/viet-nam/>.

Dân số Việt Nam hiện chiếm 1,27% dân số thế giới đang đứng thứ 14 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ.

[14] Tác phẩm Thomas P. Rausch (ed.), đã được Lê Công Đức chuyển dịch tại Việt Nam dưới tên sách Dẫn Vào Thần Học năm 2008. NXB Tôn Giáo.

[15] M Milligan (1996, tr. 161).

[16] Religious needs.

[17] wants and wishes.

[18] Frustration.

[19] Existential frustration and existential neurosis.

[20] Frankl đề nghị sử dụng phương pháp logotherapy giúp bệnh nhân trở thành kẻ có khả năng hiện hữu, giúp họ hiện thực và đón nhận những thách đố trước cơ hội mở ra cho họ. Cf. L. A. Pervin & O. P. John, 1997. tr. 215.

[21] Spiritual evolution.

[22] Tất cả phần này Cf. O’Murchú. Quantum Theology. New York: Crossroad Books, 1998. tr. 12-13.

[23] Milligan. “Linh Đạo Kitô giáo.”Dẫn Vào Thần Học. B. Dịch. T. Rausch. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2008. tr. 309.

[24] Cf. Maria Schneiders. Theological Studies, n. 5; (12/1989): tr. 676-697.

[25] Peter Van Ness. Introduction: Spirituality and the Secular Quest,1996.

[26] Cf. Maria Schneiders, 2000. tr. 342.

[27] Ví dụ Cf. Thomas Hart, 1994. tr. 2; O’Murchú, 1998. tr. 12.

[28] "We're creatures of meaning." Cf.  O’Murchú (Ibid.).

[29] Cf. O’Murchú, 1998. tr. 12.

[30] The Spirituality of Matter. tr. 196.

[31] Cf. Gibson Winter, 1989. tr. 9. Đây chính là ý nghĩa của linh đạo.

[32] Cf. GTLĐ (Giáo Trình Linh Đạo). Ch. II, tr. 44.

[33] O’Murchú. Op. Cit. tr. 13: "Our spiritual identity is inescapable; without it we simply wouldn't exist."

[34] Ibid.

[35] Cf. Milligan. tr. 161; O’Murchú, 1998. tr. 13.

[36] Cf. Viễn tượng của K. Rahner, B. Lonergan; Teilhard de Chardin cũng như của mọi nhà thần học Tômít nhân chủng siêu việt.

[37] Cf. Milligan. tr. 161); O’Murchú. tr. 13.

[38] Milligan. tr. 161.

[39] Cf. Lonergan, 1994. tr. 5, 106, 115, 122-123.

[40] Ibid. tr. 343.

[41] Cf. J. W. Conn, 1991. tr. 981-982.

[42] Cf. Bernard McGinn. Introduction, Christian Spirituality: Origins to the 12th century, 1987. tr. xvi. Cf. Milligan.tr. 310.

[43] E. Johnson. Woman, Earth, and Creator Spirit,1993. tr. 37.

[44] P. Tillich, 1963. tr. 21-22.

[45] Cf. A. Van Kaam. FS V, 1992. tr. 146.

[46] Ibid. tr. 341.

[47] Appropriated.

[48] Dành cho các phần sau, nghiên cứu kỹ hơn.

[49] Cf. Sandra M. Schneiders. Horizons 13/1 (1986); J. Wolski Conn. tr. 981.

[50] M. Milligan. tr. 161.

[51] Cf. phần 8.2, Cực Huấn Luyện, Hình Trường Huấn Luyện với 5 cực ở tr. 90.

[52] Cf. Thomas Rausch. Dẫn  Vào Thần Học. tr. 309-355.

[53] M. Milligan. “Linh Đạo Kitô Giáo.” Dẫn Vào Thần Học. Chương IX. Ed. Thomas Rausch. tr. 310.

[54] Ibid. tr. 311.

[55] Cf. Ibid. tr. 311.

[56] Cf. Felipe Bez. “Truyền Giáo Học.”Ch 7.  Linh Đạo Truyền Giáo. Web. 29/11/2016. <http://www.htth.org/so/so32/32d_linh_dao_truyen_giao.htm>.

[57] “Spirituality refers to the spiritual wisdom…” (Milligan).

[58] Cho dù theo M. Schneiders, với con người không có tôn giáo nào rõ ràng, họ sống theo một lý tưởng nào đó, ví dụ với các Bác Sĩ Phi Biên Giới, lý tưởng phục vụ nhân loại đau khổ trong thân xác, thì có thể hiểu lý tưởng đó là siêu việt. Cf. Milligan. tr. 310.

[59] Milligan. tr. 310.

[60] Tiêu điểm khảo cứu của linh đạo Kitô giáo. Cf. Milligan. tr. 311.

[61] Cf. Milligan. tr. 310.

[62] Xem bản tiếng Hy Lạp  καὶ μὴ συσχηματίζεσθε τῷ αἰῶνι τούτῳ, ἀλλὰ μεταμορφοῦσθε τῇ ἀνακαινώσει τοῦ νοὸς (Rom 12,2 BGT). Bản tiếng Anh: Do not be conformed to this world but be transformed by the renewal of your mind, (Rom 12, 2 RSV). Bản tiếng Pháp: Ne vous conformez pas au monde présent, mais soyez transformés par le renouvellement de votre intelligence (Rom 12, 2 TOB).

[63] Nhóm PVGK dịch là Anh em đừng có rập theo đời này.

[64] Cf. Brendan Byrnes. Sacra Pagina, Romans. Collegeville: The Liturgical Press.Cf. BibleWorks 8, 1996. tr. 366:

συσχηματίζω (và συνσχηματίζω, có chữ schema) tựa như nặn một hình (fashioning) nào đó mà sử dụng một khuôn có hình dạng (form, mold) nhất định. Trong Tân Ước, theo nghĩa bóng: (1) tự đồng hình với (nghĩa middle, conform oneself to), thay đổi hành vi cử chí để giống như…(Có lẽ nghĩa của Rm 12, 2 và 1Phêrô 1, 14: RSV, As obedient children, do not be conformed to the passions of your former ignorance; TOB,  Comme des enfants obéissants, ne vous conformez pas aux convoitises d'autrefois, du temps de votre ignorance; PCGK: 1  Phêrô 1,14: Như những người con biết vâng phục, anh em đừng chiều theo những đam mê trước kia, lúc anh em còn mê muội. (2) (nghĩa thụ động để cho bản thân thay đổi giống như  (allow oneself to be changed to be like), hay đồng dạng với ( be conformed to), (Có lẽ Cf. Rom 12, 2 và  1P 1, 14).

[65] μεταμορφόομαι, cải biến hay biến luyện nên dạng hình hay bản chất thiết yếu của cái gì đó (to change the essential form or nature of something) hay trở thành ('to become), thay đổi (to change), hay bị thay đổi thành (to be changed into), được biến luyện (to be transformed). Ở đây, Phaolô nói đến hành động biến luyện bằng cách canh tân  tinh thần (νοuς).

Hy Lạp  canh tân là ἀνακαίνωσις; trong Tân Ước nghĩa bóng canh tân (renewing, renewal), đó là hành động qua đó con người trở thành mới và  hoàn toàn khác cách thiêng liêng với tình trạng trước đây [a person becomes spiritually new and completely different from what you are. (Cf. Rm 12, 2)]. Cf. Brendan Byrnes. Op. Cit., 1996. tr. 366.

[66] Cf. note 371.

[67]  2 Cr 3, 18 ἡμεῖς δὲ πάντες ἀνακεκαλυμμένῳ προσώπῳ τὴν δόξαν κυρίου κατοπτριζόμενοι τὴν αὐτὴν εἰκόνα μεταμορφούμεθα ἀπὸ δόξης εἰς δόξαν καθάπερ ἀπὸ κυρίου πνεύματος.  RSV  And we all, with unveiled face, beholding the glory of the Lord, are being changed into his likeness from one degree of glory to another; for this comes from the Lord who is the Spirit.

TOB Et nous tous qui, le visage dévoilé, reflétons la gloire du Seigneur, nous sommes transfigurés en cette même image, avec une gloire toujours plus grande par le Seigneur, qui est Esprit.

 ERV But we all, with unveiled face reflecting as a mirror the glory of the Lord, are transformed into the same image from glory to glory, even as from the Lord the Spirit.

[68] Động từ κατοπτρίζω: cho một sự phản chiếu rực rỡ, rõ ràng, như là trong tấm gương (show as in a mirror); (i) Trong Tân Ước, nếu ở mode middle đó là nhìn một sự vật như là trong tấm gương (look at something as in a mirror, ví dụ nhìn do phản chiếu); (ii) Nghĩa bóng, phản chiếu như là trong tấm gương.

[69] động từ là  μεταμορφόομαι. Cf. Ý nghĩa ở trên.

[70] BGT  Titô 3,5 οὐκ ἐξ ἔργων τῶν ἐν δικαιοσύνῃ ἃ ἐποιήσαμεν ἡμεῖς ἀλλὰ κατὰ τὸ αὐτοῦ ἔλεος ἔσωσεν ἡμᾶς διὰ λουτροῦ παλιγγενεσίας καὶ ἀνακαινώσεως πνεύματος ἁγίου

RSV he saved us, not because of deeds done by us in righteousness, but in virtue of his own mercy, by the washing of regeneration and renewal in the Holy Spirit.

TOB il nous a sauvés non en vertu d'oeuvres que nous aurions accomplies nous-mêmes dans la justice, mais en vertu de sa miséricorde, par le bain de la nouvelle naissance et de la rénovation que produit l'Esprit Saint.

[71] Hy Lạp  là παλιγγενεσία = πάλιν (lại nữa, again) và γένεσις (sinh ra, birth).

[72] Cf. Mt 19,28. Ἀμὴν λέγω ὑμῖν ὅτι ὑμεῖς οἱ ἀκολουθήσαντές μοι, ἐν τῇ παλιγγενεσίᾳ …

[73] (Rm 8,29 BGT): ὅτι οὓς προέγνω, καὶ προώρισεν συμμόρφους τῆς εἰκόνος τοῦ υἱοῦ αὐτοῦ, εἰς τὸ εἶναι αὐτὸν πρωτότοκον ἐν πολλοῖς ἀδελφοῖς.

[74] συμμορφίζομαι: không những đồng hình đồng dạng mà còn chia sẻ sự giống nhau ('to share in having the likeness of), lấy hình dạng của (to take on the same form as), trở nên giống như (to become like) và có thể giống đến chết. Thật vậy, ở Philiphê 2, 6-7, Phaolô nói đến Đức Yêsu mặc dầu là hình ảnh Thiên Chúa (= ὃς ἐν μορφῇ θεοῦ ὑπάρχων, Pl 2,6 BGT), nhưng đã hóa ra không (ἀλλὰ ἑαυτὸν ἐκένωσεν), mặc lấy hình dạng nô lệ (μορφὴν δούλου λαβών)  (Pl 2,7 BGT), và đã hạ mình, vâng lời cho đến chết, chết trên thánh giá.

[75] to share in having the likeness of.

[76] to take on the same form as.

[77] to become like.

[78] Không phải chỉ là chuyện riêng giữa “tôi và Thiên Chúa.”

[79] Milligan. tr. 311.

[80] Cf. Milligan. tr. 313.

[81] Cf. Cf. Antonio Botana. “Spiritualité. Lasallienne.” Vocabulaire Thématique De L’association Lasallienne.

[82] Cf. Antonio Botana. “Spiritualité. Lasallienne.” Vocabulaire Thématique De L’association Lasallienne.

[83] Ngay các Dòng tu sĩ linh mục, như dòng Phanxicô có tên là Ordre des Frères Mineurs; Dòng Đa Minh là Dòng Les Frères Prêcheurs, Dòng Tiểu Đệ,…

[84] Jesus-Brother.

[85] Cf. Vita Consecrata, 60. (Yoan-PhaoLô II. 25/3/1996).

[86]  ChL 8; VC 41.

[87] ChL 19.

[88] Cf. ChL 18. 19; IM 5.

[89] Cf. VC 3; IM 5.

[90] LD 23.

[91] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Tín Lý Lumen Gentiusm.

[92] VC 72.

[93] VC 41. 46.

[94] LG 13.

[95] Cf. IM 6.

[96] LD 1.

[97] LD 23.

[98] LD1.

[99] Cf. IM 6.

[100] VC 39.

[101] x. VC 84-94.

[102] Gioan Phaolo II, Tông Thư Novo Millennio Ineunte ngày 6 háng Giêng, 2001), 34

[103] Cf. VC 46, 51; NMI 43.

[104] VC 33; x. 39. Công Đồng Vatican II đã làm mới lại tầm quan trọng của ơn gọi thánh tẩy khi nói rằng sự thánh thiện và việc gia nhập vào sứ mạng của GH cần được tất cả các Kitô Hữu quan tâm…Cf. FSC. “Họ Sẽ Gọi Nhau Là Anh Em.” Thư Luân Lưu 466. Roma, 2013. tr.65. (Bản Việt Ngữ).

[105] VC 39.

[106] Cf. VC 84-94.

[107] Ibid., tr. 82-83. Hình ảnh được các Giáo Phụ sử dụng.

[108] Redemptoris Donum, RD, 25/3/1984.

[109] RD, số 8.

[110] RN, số10. Cf.

<http://www.betrenthuongcap.net/cac-van-kien-cua-giao-hoi-lien-quan-den-doi-song-thanh-hien.html>.

[111] FLC 39-40; NMI 43; Form V.

[112] Đây là một tiêu đề của tác phẩm xuất sắc của nhà thần học linh đạo Jean-Marie Roger Tillard, OP.  Vì Chúa Dấn Thân Phục Vụ. Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2014 (1981). tr. 51-68. trans. từ Appel du Christ… Appels du Monde. Paris: Le Cerf, Juin 1978. Tillard (1927-2000) là người Pháp.

[113] Cf. Benedict XVI. Đức Giêsu Thành Nazareth II. tr. 171-172.

[114] μεταβῇ (vượt qua, dt: μετᾀβασις) và εἰς τέλος ἠγάπησεν (Yêu đến cùng, dt: ᾀγάπη).Trên thánh giá lời cuối cùng của Đức Yêsu nhắc lại sự hiện thực này τετέλεσται (đã hoàn tất, đã đến cùng).

[115] The very process of passing over.

[116] (The very process of passing over) into an infinite otherness. Tin Mừng Yoan diễn ta rất cụ thể tư tưởng này: Anh em ở trong Thầy như Thầy ỏ trong anh em (Ga 14,4). Tình yêu xóa mọi ranh giới là vậy, cho phép ta đi vào tận chiều sâu thẳm “khác biệt” của tha nhân để trở nên hiệp nhất và hiệp thông.

[117] Benedict XVI. Op. Cit, tr. 72-73. Phần này tác giả đọc trực tiếp từ bản tiếng Anh: Jesus of Nazareth, II. San Francisco: Ignatius Press, 2011. tr. 54-55.

[118] LD 11; VC 54.

[119] Cf. Is 61,1-2; Lc 4,18.

[120] Cf. VC, số 60, NMI, số 46.

[121] Cf. VC, số 75.

[122]  VC, số 3.

[123] "Ninnaji Kyoto16s3s4592" by 663highland - 663highland. Licensed under CC BY 2.5 via Wikimedia Commons –