LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ B
Xh 24,3-8; Mc 14,12-16.22-26
Chủ đề: Máu Giao Ước


* Xh 24,8: đây là máu giao ước, đã kí kết theo lời Yavê đã nói.

* Mc 14,24: đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước đổ ra vì muôn người.

Năm nay 2024 Chúa Nhật 9 B Mùa Thường Niên, Phụng vụ long trọng mừng kính lễ MÌNH MÁU THÁNH ĐỨC GIÊSU. Về mặt lịch sử, việc mừng kính lễ này được khởi sự vào năm 1246 tại giáo phận Liège, nước Bỉ. Đến 11-08-1264, tức 18 năm sau, Đức Giáo hoàng Urbanô V đã mở rộng lễ này ra cho toàn thế giới qua sắc chỉ TRANSITURUS. Lễ này nhằm tôn vinh cách đặc biệt Bí Tích Thánh Thể: trước Vatican II, hình thức tôn vinh rước kiệu Thánh Thể long trọng kể cả trên đường phố, được đề cao. Sau Vatican II, phụng vụ để ý hơn đến ý nghĩa của ngày lễ được tỏ lộ qua phụng vụ Lời Chúa.

Có thể nói Bí Tích Thánh Thể là chóp đỉnh của tình yêu thần linh tự hiến được Thiên Chúa thể hiện ngay trong dòng lịch sử: toàn thể VŨ TRŨ - CON NGƯỜI -  và THIÊN CHÚA hiệp nhất nên MỘT trong Thánh Thể. Thật vậy, trong TẤM BÁNH, LY RƯỢU bao gồm toàn thể vũ trụ - đó là HOA MÀU RUỘNG ĐẤT - ; bao gồm phần của nhân loại - là LAO CÔNG CỦA CON NGƯỜI - ; và Thần tính của Đức Giêsu cũng ngự trọn vẹn trong tấm bánh đó, khi Chúa Cha nhận tấm bánh nhân loại do thừa tác viên linh mục dâng lên, thì Thánh Thần biến tấm bánh phàm nhân ấy thành lương thực thần linh nuôi sống vũ hoàn. Và Đức tin công giáo khẳng đinh: “trong bí tích cực thánh, Mình và Máu cùng với linh hồn và THẦN TÍNH của Chúa chúng ta LÀ Đức Giêsu Kitô - và như vậy là Đức Kitô toàn thể - hiện diện một cách đích thực, thật sự và theo bản thể” (GLHTCG 1374). Bí tích Tình Yêu ấy, được Thiên Chúa từng bước một chuẩn bị và thể hiện trong dòng lịch sử ngang qua một yếu tố nhân loại là GIAO ƯỚC: Một giao ước ký kết bằng MÁU. Các bài đọc trong phụng vụ năm B nhấn mạnh đến khía cạnh GIAO ƯỚC ký bằng Máu này của bí tích.

Bài đọc một trích từ Xh 24 trình bày nghi thức ký kết Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Do Thái qua trung gian của ông Môsê. Tại núi Sinai, Thiên Chúa đã ban Luật Chúa cho Dân Do Thái – Đó là MƯỜI LỜI mà ta quen gọi là 10 điều răn. Qua đó Chúa sẽ nhận người Do Thái làm dân riêng Chúa, còn họ sẽ tôn thờ Thiên Chúa là CHÚA của họ. Dân Do Thái đã đón nghe 10 Lời mà Môsê đã nhận lãnh từ Thiên Chúa và đọc lại cho họ. Họ đồng thanh hứa “Mọi lời Chúa phán, chúng tôi sẽ thi hành”. Sáng hôm sau nghi thức ký kết Giao Ước được cử hành: 

-    Môsê lập bàn thờ, dựng 12 trụ đá biểu tượng cho 12 chi tộc Israel.

-    Rồi dâng lễ toàn thiêu, giết bò làm lễ kỳ an dâng cho Thiên Chúa. Môsê chia MÁU của vật hiến tế làm 2 phần: một phần đổ trên bàn thờ (là biểu tượng cho Thiên Chúa).

-    Tiếp đó ông lấy cuốn sách đã chép 10 lời mà dân đã đồng ý trước đó, ĐỌC LẠI cho dân; Và một lần nữa dân long trọng tuyên thệ “Tất cả những gì ĐỨC CHÚA đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo”.

-    Bấy giờ, Môsê lấy phân nửa số máu còn lại RẢY TRÊN DÂN VÀ NÓI “đây là Máu Giao Ước ĐỨC CHÚA đã lập với anh em…”

Với Giao Ước này, từ nay Thiên Chúa và dân Do Thái coi như có cùng chung một sự sống, một vận mạng. Tuy nhiên cũng vì Máu là biểu tượng của sự sống, cho nên ký kết bằng máu nghĩa là ký kết bằng chính mạng sống của mình; Do đó ai vi phạm Giao Ước thì máu người ấy phải đổ ra.

Với Giao Ước bằng Máu này, đám nô lệ, ô hợp trở thành một dân: dân tư tế, dân thánh dân riêng của Thiên Chúa và Chúa là Thiên Chúa của dân (Xh 19,5-6).

Còn trong Tin Mừng, Giao Ước là một hành vi tự nguyện, đơn phương phát xuất từ tình yêu thần linh của Đức Giêsu. Trong bữa Tiệc Ly, kỷ niệm ngày Chiên Vượt Qua chịu sát tế, Đức Giêsu trước khi tự hiến tế mình trên Thập Giá vào thứ sáu hôm sau, Người đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Bánh và Rượu trong nghi lễ Vượt Qua Do Thái đã được Đức Giêsu sử dụng và biến chúng thành ra THỊT và MÁU NGƯỜI: Đức Giêsu cầm lấy bánh… và nói “Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy”; Và Người cầm chén Rượu… bảo các ông “Đây là Máu Thầy, MÁU GIAO ƯỚC, đổ ra vì muôn người”.

Vậy với Giao Ước mới này, ký kết trong Máu Đức Giêsu, từ nay qua bí tích và các thừa tác viên của Chúa và Giáo Hội, hy tế thập giá được tái hiện mỗi ngày trên bàn thờ; Và mỗi tín hữu chúng ta đều có dịp đích thân cam kết với Chúa mỗi ngày qua Thánh Lễ và Lời Chúa. Mình và Máu Đức Giêsu là dấu chứng tuyệt vời của Tình Yêu vô địch của Thiên Chúa trong Đức Giêsu.


SUY NIỆM CHÚA NHẬT MÌNH MÁU CHÚA


Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh… và nói “anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy”. Và Người cầm chén rượu… bảo các ông: “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước đổ ra vì muôn người” (Mc 14,22-24).

Theo lịch phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, Chúa Nhật ngay sau lễ Chúa Ba Ngôi được chọn làm ngày mừng trọng thể Mầu Nhiệm Mình và Máu Chúa Giêsu – Kitô. Trong đức tin, tất các tín hữu Công Giáo đồng tâm nhất trí tuyên xưng rằng: tấm bánh và ly rượu đang hiện diện trước cặp mắt phàm trần của chúng ta, trên bàn thờ, thì sau khi được linh mục truyền phép trong Thánh Lễ đã trở thành lương thực thần linh, trở nên THÁNH THỂ, nghĩa là trong tấm bánh, ly rượu đó giờ đây là “Mình và Máu, linh hồn và thần tính của Đức Giêsu đang hiện diện cách đích thật, thật sự và theo bản thể (x.GLHTCG số 1374). Xét theo nhãn giới khoa học thì “tấm bánh” và “ly rượu” trước hay sau truyền phép thì chất thể vẫn chỉ là một, không biến đổi chút nào: bánh rượu vẫn là sản phẩm của lúa mì và cây nho nhờ lao công con người tạo nên. Do đó trong trường hợp bánh bị ẩm mốc, rượu bị hư chua nghĩa là bị biến đổi chất thể thì không thể dùng để cử hành bí tích.

Còn đối với những ai đã tin vào một Thiên Chúa tình yêu đã tạo dựng nên muôn loài và muốn muôn loài cuối cùng hiệp nhất trong Người (x.1Cr 15,28) thì cái chất thể “bánh rượu” ấy giờ đây trở nên lương thần nuôi dưỡng nhân loại và kết hợp nên một những ai tin nhận và ăn lương thần ấy với Thiên Chúa.

Tình yêu và sự khôn ngoan của Thiên Chúa đã dùng một phương thức rất bình thường nhưng rất hữu hiệu trong công trình sáng tạo để kết hợp nên một kẻ tin với Đức Giêsu: Đó là ĂN. Thật vậy, chỉ có “ăn” mới làm cho lương thực và người ăn nên một. Khi ăn một lương thực vào con người mình, thì lương thực ấy sẽ được tiêu hóa và trở thành máu thịt của người ăn. Bù lại, dưỡng chất, sức sống của lương thực sẽ thấm vào xương thịt của người ăn, biến đổi người ấy, làm lớn lên, thay da đổi thịt nên như một người mới. Và khi sự sống của lương thực và của người ăn đan quyện vào nhau cách mật thiết bất khả phân ly thì lúc đó cả hai nên một, “ở trong nhau” (Ga 15) đến độ có thể nói được như Phaolô: “tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Để có được sự biến đổi bản thể nhiệm mầu (sđd 1376) tạo nên lương thực thần linh đó, Đức Giêsu (trong tư cách là người con sắp về lại nhà Cha dọn chỗ cho anh em mình: Ga 14,2-3) đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Đó là thời điểm Đức Giêsu biểu lộ ở mức độ cao nhất tình yêu của Người đối với đoàn môn đệ và trao quyền thừa kế cho họ tiếp tục công cuộc của Người: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (x.1Cr 11,24b.25b).

Như vậy, sau lời truyền phép của linh mục, trước mắt phàm nhân cũng chỉ là bánh và rượu; Nhưng đó không còn là một sự hiện diện theo chất thể nữa mà đã là một sự hiện diện biến đổi: tấm bánh, ly rượu đó giờ đây là Mình Máu Thánh Chúa là lương thần nuôi sống trần gian.

Có thể xem sự biến đổi này như là một công trình “sáng tạo mới”: giống như Thiên Chúa, từ cục đất đã nắn lên hình tượng Adam; lúc đó Adam chỉ mới là một bức tượng vô tri, nhưng khi Thiên Chúa “thổi hơi thở” vào thì tượng đất ấy được biến đổi thành một con người sống, đầy sinh lực, có khả năng làm chủ vũ trụ và hơn nữa còn có năng lực truyền sinh tạo nên những con người mới giống như mình, tràn đầy mặt đất.

Có thể nói công trình “sáng tạo mới” này kỳ diệu hơn công trình sáng tạo tiên khởi vì Thiên Chúa đã nâng cao vai trò của con người lên, thực sự mời con người cộng tác tích cực vào công trình biến đổi bản thể này. Thật vậy, trong tấm bánh một khi đã biến đổi thành Mình Máu Thánh, Thiên Chúa đã hiệp nhất toàn thể vũ hoàn: Trời – Đất – Người nên một trong Tấm Bánh. Thật vậy, để trở thành Mình Máu Thánh, “tấm bánh” đó là:

*“Hoa màu ruộng đất”: biểu tượng cho sinh lực, tinh túy của toàn thể vũ trụ.

*“Và lao công con người”: nhờ sức con người cày cấy, gặt hái, làm nên tấm bánh, ly rượu để tiến dâng lên Chúa.

*“Chúng con dâng lên Chúa”: trong tấm bánh cũng chan chứa lòng vâng phục, thảo hiếu của con người dâng lên Chúa, biểu lộ lòng tôn thờ theo đúng cách thức mà Đức Giêsu dạy bảo.

*“Để trở thành Thịt và Máu…”: tin rằng Thiên Chúa đón nhận và sẽ làm biến đổi thành Mình Máu Chúa.

*Và tác nhân thực hiện cuộc biển đổi ấy là Chúa Thánh Thần và thừa tác viên linh mục…Nhờ đó công cuộc thần linh kéo dài đến tận thế.

Phần phụng vụ Lời Chúa, Tin Mừng năm B sử dụng bản văn của Mc 14,12-16.22-26 thuật lại Bữa Tiệc Ly của Đức Giêsu, trong đó Người đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể; còn bài đọc 1 trích Xh 24,3-8, thuật lại nghi thức Thiên Chúa kết giao ước với dân Do Thái tại núi Sinai: Thiên Chúa ban Lề Luật, Dân hứa quyết tâm tuân giữ và hai bên kết ước bằng một nghi thức, “rảy máu lên dân”. Như vậy Lời Chúa của năm B nhấn mạnh đến khía cạnh GIAO ƯỚC của Bí Tích Thánh Thể. Giao Ước được ký kết bằng MÁU. “Máu” nói lên tầm mức quan trọng của Giao Ước, đồng thời cho thấy mối hiệp thông gắn kết thâm sâu, bền vững vì “máu” là biểu tượng của sự sống:

-    “Môsê rảy máu trên dân và nói: đây là máu giao ước Yavê đã lập với anh em dựa trên những lời này” (Xh 24,8) và ông cũng rảy máu trên bàn thờ (24,6b. “Bàn thờ” tượng trưng cho Thiên Chúa).

-    Đức Giêsu bảo các môn đệ: “Đây là Máu Thầy, máu Giao Ước đổ ra vì muôn người” (Mc 14,24).

“Máu Giao Ước” trong bài đọc 1 là một kết ước song phương: một nửa máu rảy trên dân và một nửa máu rảy trên bàn thờ. Chúa đòi hỏi dân phải tuân giữ lề luật như là điều kiện để được hưởng quyền làm Dân riêng Chúa (x.Xh 24,3.7; 19,4-6). Vào thời điểm nhóm nô lệ Do Thái vừa ra khỏi Ai Cập, chưa có kỷ luật chỉ là một nhóm ô hợp, chưa phải là một dân, thì Thiên Chúa cần phải có kỷ cương, đòi hỏi họ những điều tối thiểu để đào luyện tinh thần tự do, tạo nên một dân thống nhất để dần dần từng bước trao cho họ Đất Hứa, vương quyền thật sự là một dân, dọn đường đón Đấng Mêsia.

Còn trong bài đọc Tin Mừng, Giao Ước mới được Đức Giêsu thiết lập với đoàn môn đệ đã được Người chọn và đào tạo có mục đích rõ ràng, họ được Người coi như bạn hữu (x.Ga 15,15), như anh em (x.Ga 20,17; Mt 28,10). Do đó Chúa đơn phương kết ước, tự hiến tặng thân mình làm lương thực cho mọi người, chỉ cần họ chân tâm đón nhận.

* Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua: Mc 14,13-16, cấu trúc đoạn văn:

Lệnh truyền của Đức Giêsu Sự việc xảy ra đúng như vậy
c.13: Đức Giêsu sai hai môn đệ đi
Các anh đi vào thành 
cc.13b-15a: mô tả chi tiết các diễn tiến sẽ diễn ra
c.15b: ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta

 
c.16a: hai môn đệ ra đi
Vào đến thành
c.16b các ông thấy mọi sự y như Người đã nói
c.16c: và các ông dọn tiệc Vượt Qua.

 

Marcô cố ý trình bày những gì Đức Giêsu ra lệnh thì mọi sự diễn ra răm rắp đúng như ý Người. So với Sách Sáng Thế chương 1: Chúa phán gì, mọi sự đều diễn tiến ra y như vậy. Đọc thêm Xh 12,21-27: ngay trong đất Ai Cập lúc còn là nô lệ, dân Do Thái đã nhận được chỉ thị cụ thể của Chúa phải mừng lễ Vượt Qua; Và họ đã tuân hành răm rắp (Xh 12,28). Ngay sau đó, dân Chúa lên đường rời đất nô lệ, tiến về vùng đất tự do. Và tại núi Sinai họ đã kết Giao Ước bằng máu với Thiên Chúa (bài đọc 1). Như vậy, qua cấu trúc văn chương như thế, Marcô kín đáo mặc khải Đức Giêsu như là một Vị Thiên Chúa (phán gì có đó) thiết lập Giao Ước mới, bí tích Thánh Thể. Người hoàn toàn làm chủ mọi tình huống và tất cả diễn ra đúng theo Ý Người. Người đang ĐIỀU KHIỂN mọi biến cố để thực thi Ý Cha.

* Lập bí tích Thánh Thể Mc 14,22-25

Bí tích Thánh Thể được Đức Giêsu thiết lập trong một bữa ăn. Đó là bữa ăn lễ Vượt Qua của người Do Thái. Lễ này tưởng niệm lại biến cố cứu độ làm xoay chuyển vận mạng của họ: từ một nhóm người bị nô lệ, bị bóc lột, có nguy cơ diệt chủng, họ trở thành những người tự do có thể chọn lựa quyết định vận mạng của mình: yếu tố chính trong cử hành Vượt Qua đưa họ đến giải cứu là MÁU. Máu Con Chiên chịu sát tế được bôi lên ngưỡng cửa nhà của những ai ăn thịt Chiên. Máu đó trở thành dấu hiệu nhận diện dân Chúa để được cứu.

Khi thời buổi đến, đây là lúc Đức Giêsu biết Cha trao cho Người mọi quyền năng và cũng là lúc Người tỏ tình yêu đến tột cùng (x.Ga 13,1b.3), Đức Giêsu trong cương vị là Con sắp về lại Nhà Cha đã đảm nhận toàn bộ Giao Ước cũ làm của Người và BIẾN ĐỔI chúng (bánh không men và ly rượu trong nghi thức ăn lễ Vượt Qua Cựu Ước) thành MÌNH và MÁU Người, trở thành Giao Ước Mới, Lương Thần mới đưa dân mới vượt qua thân phận giới hạn của con người (thời Xuất Hành chỉ là vượt qua sa mạc) để hiệp thông với sự sống thần linh của Thiên Chúa.

* Việc Rước Lễ  còn gọi là hiệp lễ. Chúa lập Giao Ước Mới ban Mình Máu là để nên một với chúng ta, để chúng ta ĂN NGƯỜI.

Trong tiếng Việt chữ “Rước lễ” nhấn mạnh đến việc đón nhận long trọng, nhấn tới nghi thức – Chữ “Hiệp lễ” nhấn tới khía cạnh kết hợp diễn tả tốt hơn từ COMMUNIO của tiếng La Tinh. Chiết tự từ la tinh: “communio” gồm: “CUM” = “cùng với, với”; “UN” = “một”; “UNIT” = “hợp nhất”. Vậy ý nghĩa của “rước lễ” là chúng ta được nên một với “ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH”. Chúng ta không “rước” “thịt của một xác chết” mà là kết hiệp nên một VỚI Đấng Phục Sinh: “Cha – Con – Môn đệ” Ở TRONG NHAU (Ga 15).

Trong thân phận làm người, cách thức tuyệt vời nhất để nên một hai vật thể khác nhau đó là ĂN. Như vậy tất cả những “Hiện diện chất thể” trong công trình sáng tạo: Bánh – Rượu – Nho – hoa màu ruộng đất – lao công con người – ĂN… được Đức Giêsu tái đảm nhận và BIẾN ĐỔI bản thể chúng thành MÌNH MÁU NGƯỜI.
Với Mình Máu Chúa toàn thể vũ trụ, công trình sáng tạo nên một. Phần tín hữu, Chúa chỉ đòi một việc: thông hiệp vào quyền năng, tình yêu thần linh đó bằng cách “ĂN”. Vậy hãy “ĂN” cho xứng đáng. “HỌC”, “HIỂU”, “năng RƯỚC LỄ XỨNG ĐÁNG” là cách thức tuyệt vời để THỜ PHƯỢNG CHÚA và TRUYỀN GIÁO hữu hiệu.

TÌM HIỂU 2 BÀI ĐỌC
Xh 24,3-8 và Mc 14,12-16.22-26

Năm 2024, Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô trùng vào Chúa Nhật 9 Mùa Thường Niên B. Vài hàng về lịch sử ngày lễ có thể xem ở phần "chủ đề".

Lễ này được thiết lập nhằm tôn vinh cách đặc biệt Bí tích Thánh Thể. Trước Vatican II, nghi lễ thường có cuộc kiệu Thánh thể long trọng đi qua các đường phố lớn trong giáo phận. Sau Vatican II, phụng vụ chú trọng hơn đến ý nghĩa của ngày lễ được diễn tả trong phụng vụ Lời Chúa. Các bài đọc năm B chú trọng đến khía cạnh GIAO ƯỚC. Và điểm nhấn của phụng vụ là các Giao Ước đều được ký kết bằng MÁU: trong bài đọc 1 là Máu của con vật chịu sát tế; Và trong Tin Mừng là MÁU của chính Đức Giêsu Kitô.

Bài đọc 1 trình bày nghi thức kết giao ước giữa Thiên Chúa và dân Do Thái qua trung gian Môsê. Thiên Chúa muốn ban Luật cho đám đông ô hợp, nô lệ vừa thoát khỏi ách Ai Cập để biến họ thành 1 dân có kỷ cương, có trách nhiệm lẫn quyền lợi để trở nên dân "sở hữu riêng của Chúa", "một vương quốc tư tế, một dân Thánh" (Xh 19,5-6).

Thiên Chúa triệu tập Môsê lên núi và ban cho ông " Mười Lời" mà chúng ta quen gọi là "10 điều răn". Quay xuống núi, Môsê đã trình bày lại "Muời Lời” ấy cho dân và dân đã đồng thanh nhất trí đoạn hứa là sẽ thực thi mọi lời đó của Thiên Chúa (x. Xh 19,8). Và sáng hôm sau, nghi thức kết Giao ước được cử hành:

Môsê lập bàn thờ, dựng 12 trụ đá biểu tượng cho 12 chỉ tội Israel; Rồi sát tế bò dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an cho Thiên CHúa. Máu của vật hiến tế được chia làm 2 phần: một phần rảy lên bàn thờ (biểu tượng của Thiên Chúa) và một phần rảy trên dân.

Đây là 1 nghi thức giao ước được ký kết bằng máu của 1 con vật chịu sát tế. Theo tập tục thời đó, khi 2 bên đối tác đồng ý kết giao ước với nhau thì người ta giết con vật chịu sát tế, lấy máu của nó rảy lên 2 bên đối tác, Nghi thức ấy hàm ẩn 2 điều:

1 / "Máu" là biểu tượng của sự sống nên Luật Do Thái cấm ăn thịt còn máu, nghĩa là thịt con vật chưa cắt tiết (x. Lv 19,26; Đnl 15, 23; Cv 15, 20). Vì thế ký kết bằng máu chính là lấy mạng sống mình ra để cam kết, nghĩa là ai vi phạm thì phải chết.

2/ ký kết bằng máu của cùng một con vật nghĩa là TỪ NAY, hai bên có cùng một sự sống, cùng một  số phận: vận mệnh của người này được coi như của người kia.

Với Giao Ước ban Lề Luật này, từ nay đám ô hợp, nô lệ đã trở thành dân Thiên Chúa. Biến cố Xuất Hành và ban Giao ước được coi là biến cố khai sinh dân tộc Israel.

Còn nơi bài đọc Tin Mừng, Đức Giêsu đơn phương thực hiện giao ước bằng máu, nhưng thay vì ký kết bằng máu của con vật chịu sát tế thì Người đã tự nguyện đổ máu mình ra làm giao ước cứu muôn người (chứ không chỉ đánh riêng cho Israel).

Trong Cựu Uớc nhờ máu con chiên vượt qua. (Xh 12, 21-24) và máu con chiên chịu sát tế để kết Giao ước Sinai (Xh 24, 4b-8), mà đám ô hợp nô lệ ở Ai Cập, được giải phóng, tự do, có Luật và trở nên dân con của Chúa.

Vào thời Tân Uớc, qua Máu Giao Ước của Đức Giêsu, muôn người (chứ không chỉ riêng cho dân Do Thái) được giải cứu, và Tin Mừng Matthêu còn nói rõ hơn là cứu khỏi tội lỗi" (Mt 1, 21 và Mt 26, 28), và được trở thành dân mới của Thiên Chúa. Giao Ước này được Thiên Chúa hoàn tất trong Đức Giêsu qua Tam Nhật Vượt Qua.

Còn chất liệu được Đức Giêsu dùng để lập Giao ước đó là BÁNH và RƯỢU.  Qua 2 hình thức "bánh" và "rượu" này, Đức Giêsu đã đảm nhận toàn bộ cuộc sống, công trình của nhân loại, lẫn của Cựu Ước trong bản thân Người và biến chúng thành phương tiện cứu độ khi tặng ban cho các thực tại trần thế này một giá trị thần linh: "Bánh" và "rượu" vốn chỉ là "hoa màu ruộng đất" và "lao công của con người" giờ trở thành Mình và Máu Thánh Chúa - Đó là lương thực đích thực bởi Trời được ban cho đoàn dân lữ hành chuẩn bị trước cho bữa tiệc cánh chung, đó là được cùng với Đức Giêsu "uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa" (Mc 14, 25b).

Ngày nay, ở nhiều nơi, Thánh Lễ được cử hành mỗi ngày. Ước mong các tín hữu năng tới với Giao Ước Tình Yêu qua Thánh lễ, nhờ đó ngày càng trở nên giống Đức Giêsu hơn, dám noi gương Người phó thác vận mạng mình cho Chúa vì tin rằng Chúa đã đảm nhận vận mạng nhân loại của chúng ta làm của Chúa. Đó là cách thế tuyệt vời, hữu hiệu mà mọi tín hữu đều có thể làm cách dễ dàng để góp phần với Mình Máu Chúa xây dựng dân mới là Giáo Hội, là Nhiệm Thể Chúa Kitô, chuẩn bị cho ngày đoàn tụ cánh chung, tất cả sẽ được cùng với Đức Giêsu phục sinh “uống thử rượu mới trong Nước Thiên Chúa”.

BÀI ĐỌC I: Xh 24, 3-8

Văn mạch
Sau tai ương thứ 10, dân Israel rời Ai Cập vào ngày 15 tháng Nishan tức tháng 1(so với Xh 12,6-7), vượt Biển đỏ rồi tiến vào sa mạc. Tới tháng thứ ba, đám ô hợp này đến chân núi Sinai (Xh19,1). Tại đây, Thiên Chúa đến gặp Môsê và qua ông, đề nghị một giao ước với dân: Dân sẽ giữ luật Giao Ước, còn Thiên Chúa, Người sẽ coi họ là sở hữu riêng của Người, là một vương quốc tư tế, một dân thành. Dân đồng ý kết ước (Xh 19,3-8)

Để gặp Chúa, dân phải có hai ngày chuẩn bị (19,10). Đến ngày thứ ba (19.16) Chúa hiển lộ vinh quang ngự xuống núi Sinai trao ban cho Môsê Luật Giao ước gồm Mười Lời (Xh 20,1-17) Nhận Luật xong, Môsê xuống núi thuật lại cho dân mọi lời của Yavê và mọi điều luật và toàn dân đồng thanh đáp: “mọi lời Yavê đã phán chúng tôi sẽ thi hành"; Ông Môsê chép lại mọi lời của Yavê (24,3-4a). Sáng hôm Sau Môsê cho tiến hành nghi thức kết giao ước theo tập tục thời đó. Xh 24,1-11 ghi lại hai dạng nghi thức kết giao ước.

- Xh 24, 1-2. 9-11 (J), Giao ước được niêm ấn bằng bữa ăn.

- Xh 24, 3-8 (E), giao ước được lập qua nghi thức đổ máu trên bàn thờ và rảy máu trên dân chúng đang có mặt ở đó.

Còn phần được gọi là " Bộ Luật Giao ước” (Xh 20,22 - 23,33) thực ra là hoa trái sau này được bổ sung vào khi dân đã vào sống trong Đất Hứa (x. CGKPV, ‘Ngũ Thư’ Ấn bản 1999, trang 217, nốt ‘g’).

Bài đọc 1 hôm nay là trích đoạn nói về nghi thức kết Giao tước bằng máu: sát tế con vật được hiến tế rồi lấy máu này trên 2 đối tác; Rảy trên bàn thờ là biểu tượng của Thiên Chúa, và rảy trên dân. Từ nay hai bên có chung sự sống, chung một số phận Trong thực tế, dân luôn vi phạm Giao Ước, nhưng Thiên Chúa vẫn tín trung, thực hiện lời hứa cứu độ của Người.

CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH

Sau khi được Thiên Chúa triệu lên núi gặp Chúa và nhận lệnh (Xh 24,12) Mộsê xuống núi và chủ sự, điều động mọi việc, từng chi tiết trong quá trình kết ước giữa dân với Thiên Chúa. Thật vậy, đọc kỹ Xh 24, 3-8, ta thấy Môsê độc diễn, ông tính toán hết mọi sự những người khác chỉ làm theo chỉ dẫn của ông.

Bản thân ông và tất cả những gì ông làm trong bài đọc một là hình ảnh báo trước Giáo Ước trong máu được Đức Giêsu thiết lập trong bữa Tiệc Ly. Thật vậy trong trích đoạn Tin Mừng hôm nay ta thấy Đức Giêsu hoàn toàn chủ động mọi việc: từ việc sắp xếp trước nơi sẽ ăn lễ tế Vượt Qua cho đến từng chi tiết; Đến việc lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu độc diễn trong mọi chi tiết.

Cấu trúc của bài một, lẫn Tin Mừng, năm B này có diễn tiến gần giống như các phần một trong thánh lễ: có phần lời Chúa; tiếp đó là chuẩn bị những yếu tố cần thiết để kết Giao Uớc, và cuối cùng là nghi thức kết Giao Ước.

1.    Môsê và dân trong tương quan với Lời Chúa (Xh 24, 3-4a) 

❖ Môsê công bố mọi lời và mọi điều luật của Chúa cho dân (24, 4a)

❖ Toàn dân đáp lại sẽ thi hành mọi lời Yavê phán (24,3b) 

❖ Môsê ghi lại mọi lời của Yavê (24, 4a)

Diễn biến này tương tự như phần phụng vụ Lời Chúa trong Thánh Lễ: các bài đọc được công bố cho cộng đoàn và tất cả đáp lại bằng ĐÁP CA

“MỌI LỜI”: ám chỉ 10 điều răn. Qua c.4a: chỉ có “mọi lời” này của Yavê mới được Môsê ghi chép lại, và được gọi là “cuốn sách Giao Ước” (c. 7)

- “Mọi điều luật” ám chỉ Bộ Luật Giao Ước. Dấu vết cho thấy sau này, Bộ Luật Giao Ước mới được đưa vào chung với Mười Lời làm thành mặc khải Sinai (x. Xh 20-23) (CGKPV sđd 225 nốt "e").

Chúng tôi sẽ thi hành mọi lời Yavê đã phản: dân Chúa đã bắt đầu biết sử dụng tự do vừa được Chúa ban để cam kết thực thi Lời Chúa. Vậy Luật Giao ước không phải là một áp đặt một điều độc đoán đến từ Thiên Chúa; Mà là một đề nghị: mời dân nhìn lại cách hành động Thiên Chúa đã làm cho dân trong quá khứ, rồi mời dân tự do “kết nối thân tình” với Thiên Chúa: Chúa là Thiên Chúa của dân; dân là dân riêng, dân thánh của Chúa (Xh 19,5-6; Đnl 7,6; Gr 31,1). Vậy tuân giữ “mọi lời Yavê” là một cam kết tự nguyện, đầy ý thức dân muốn hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Các điều khoản chỉ là những nhắc nhở giúp chúng ta tỉnh thức kịp thời khi bắt đầu có những lầm lạc đe doạ cắt đứt mối tình thân “muốn thuộc về nhau”. Việc cam kết giữ các điều luật phải được ý thức rằng đó là ta đang thi hành “mọi lời của Yavê”

Qua lời cam kết này dân dần biểu lộ tính tự do của người con Thiên Chúa: biết suy tư, biện phân và chọn lựa đường sống cho chính mình.

Vậy phần cam kết giữ lời Chúa là một chuẩn bị tinh thần dọn đường cho việc cam kết pháp lý và cho cam kết pháp lý đó có một ý nghĩa đích thực.

“Môsê chép lại mọi lời của Yavê”: Thiên Cháu đã chuẩn bị cho Môsê làm công việc lưu truyền này khi ông được giáo dục 40 năm trong triều đình Ai cập. Trong các triều vua đều có hàng ký lục ghi chép lại những giao kèo, biến cố, sắc lệnh của vua… Ở đây Môsê viết thành văn bản những điều khoản mà Israel phải tôn trọng. Ở xã hội cổ Đông Phương, mọi kết ước đều được ghi thành văn bản, được đặt ở nơi tôn kính và phải được đọc lại theo định kỳ (Monique Piettre- Comprendre de la Parole Année B3 p.23).

Các bản văn quan trọng còn được khắc vào bia đá, hàm ý là để tồn tại lâu dài. Mười Lời Yavê được khắc vào 2 bia đá.

2. Chuẩn bị các yếu tố cần có để kết giao ước (Xh 24, 4b-5)

* Phần đích thân Môsê: lập bàn thờ và đưng 12 trụ đá (24, 4b)

* Sai các thanh niên dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an tế lễ Yavê (25,5)

Môsê vẫn hoàn toàn nắm vai chủ động: một phần ông đích than đảm nhận; một phần nhờ các thanh niên trong dân Israel làm. Hai bên kết giao ước đối diện nhau:

-    Một bên là bàn thờ tượng trưng cho Yavê, đặt ngay chân núi

-    Bên đối diện là cộng đồng Israel vừa hiện diện thể lý, vừa biểu tượng qua hình ảnh 12 trụ đá.

Bàn thờ là nơi thánh để tế lễ Thiên Chúa, do đó việc thiết lập bàn thờ, Chúa trao riêng cho Môsê (x.Xh 20, 24 – 25). Mười hai trụ đá là biểu tượng toàn dân nên chỉ có Môsê có đủ tư cách để dựng nên. Lúc vừa ra khỏi Ai Cập chưa có hàng tư tế. Bản thân Môsê cũng thuộc chi  tộc Lêvi (x.Xh 2, 1-2).

 Môsê phân công cho các thanh niên dâng lễ tế cho Yavê:  trong giai đoạn lịch sử chưa có hàng tư tế đúng theo quy định, người ta tùy nghi chọn những thanh niên xứng đáng để đảm nhận vai trò mà sau này chỉ có chi tộc Lêvi, các tư tế, ,mới có quyền đảm nhận (x. Xh 33, 11; Tl 17, 5; 1Sm 3, 3; 7).

“Lễ toàn thiêu”: Hôlôkautoma gồm hai yếu tố: “Hôlôs” (adj) = toàn thể, tất cả; và “Kautos) (adj) do động từ “Kaio” = thiêu đốt. Lễ toàn thiêu là một hy lễ tiến dâng Thiên Chúa, trong đó các lễ vật hoàn toàn được thiêu hủy. Mục đích là để làm vui lòng Yavê (x Lv 1, 9b.13b.17b), tỏ lòng thờ phượng, xác tín mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa tất cả (x.Lv1, 1-17).

“Lễ Kỳ an”  còn gọi là “hy lễ hiệp thông” hoặc “hy lễ giao ước” vì đây là nghi thức tạ ơn Thiên Chúa, đồng thời làm cho người ta được hết hợp với Chúa. Lễ vật được chia sẻ giữa Thiên Chúa và người dâng trong một bữa ăn thánh. Vật hiến tế được chia làm ba phần: 

-    Phần quý nhất (mỡ, máu) được dâng cho Thiên Chúa.

-    Các tư tế được hưởng phần đặc biệt (x. Lv 7, 28-34)

-    Phần còn lại, người dâng lễ sẽ được ăn… vì lễ này đặc biệt diễn tả sự hiệp thông đời sống, tương quan giao ước với thân hữu giữa người tín hữu với Thiên Chúa (x.CGKPV – sđđ trang 269 nốt u”.

3.  Môsê thi hành nghi thức kết Giao Ước (Xh 24, 6-8)

 *  Môsê chia số máu của các vật sát tế làm hai phần: Một nửa đựng trong một cái chậu, một nửa rảy lên bàn thờ (24, 6)

*   Đọc sách Luật cho dân nghe, dân hứa thi hành và tuân theo (24, 7)

 * Rảy máu trên dân kèm theo công thức “đây là máu giao ước Yavê đã lập với anh em dựa trên những lời này “ (24. 8).

Một nửa máu đựng trong chậu: là để sẽ rảy trên dân, sau khi nghe biết dân đồng ý gữ luật Giao Uớc.

Môsê là trung gian (x.Xh 20,18-21) giữa Yavê và dân. Ông nối kết dân với Yavê bằng việc đổ máu của cùng một lễ vật hiến tế lên bàn thờ (tượng trưng cho Yavê) rồi lên dân chúng. Vậy Giao Ước được lập bằng máu (x.Lv 1,5). Đây là hình ảnh báo trước Giao Uớc Mới do Đức Giêsu lập bằng chính Máu của Người (x.Mc 14,24; Dt 9,12-26) (x.CGKPV sđd trang 226 nốt “g”)

Tuy nhiên nói cho đúng thì Giao Ước Mới do Đức Giêsu lập trong Bàn Tiệc Ly là một giao ước đơn phương: chỉ một mình Đức Giêsu sẽ phải đổ máu; Nên các bản văn liên quan đều sử dụng từ “DIATHEKE” (Mc 14,24; mt 26,28; Lc 22,20; 1Cr 11,25; Dt 9,15-22) chứ không từ “SUNTHEKE” (x.Ng.đ.Long FSC “Dẫn nhập Kinh Thánh” phần I trang 3-5)

Môsê lấy CUỐN SÁCH GIAO ƯỚC … đây là cuốn sách Môsê đã chép lại Lời Yavê sau lần thứ 2 dân đồng ý giữ Lời Chúa (Xh 24,4a; lần 1 là Xh 19,8: dân đồng ý với lời đề nghị của Chúa để được làm dân riêng của Chúa).

…Đọc cho dân nghe: đây là lần thứ 3 dân được nghe lời luật Giao Ước và lần 3 này là chắc chắn hơn vì Lời đó đã được chép thành sách.

Họ thưa: “Tất cả những gì Yavê đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo”: Đây là lần 3 dân lập lại lời cam kết này (Xh 19,8; 24,3b; 24,7b) 3 lần lập lại hàm ý đây là một cam kết đầy ý thức, dứt khoát, quyết tâm.

Đối tượng kết ước: không là một cá nhân cho dù là Môsê đi nữa; cũng không là một nhóm nào đó, mà là MỘT DÂN. Chữ “DÂN” được lập lại 4 lần: c.3 (2 lần); c.7 và c.8. vậy Thiên Chúa ban Giao Ước là để thiết lập một dân hiệp nhất, có kỷ cương, biết tuân thr Lời Người để giữa lòng nhân loại hỗn độn, ô hợp, dân đó trở nên dân riêng, dân tư tế, dân thánh của Thiên Chúa, làm trung gian kết nối nhân loại với Thiên Chúa.

Cũng như trong công trình sáng tạo, Mười Lời Thiên Chúa (trong St3 “Thiên Chúa phán” 10 lần) đã đưa vũ trụ hỗn mang trở nên ổn định trật tự làm nên cái nôi sự sống cho mọi loài, thì nay cũng với Mười Lời Giao Ước, Thiên Chúa thiết lập một dân ổn định biết đặt nền hiện hữu của mình trên việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Dân đó sẽ là bước khởi đầu cho công cuộc hồi phục của Thiên Chúa: từ nơi dân đó, Vị Cứu Tinh nhân loại, Vị Trung Gian duy nhất nối kết Thiên Chúa với con người sẽ nhập thể và được sinh ra rồi cứu nhân loại bằng chính MÁU CỦA NGƯỜI.

“Đây là Máu Giao Ước…” công thức kết Giao Ước này được Môisê công bố như là dấu ấn của việc kết ước, sau này sẽ được Đức Giêsu lấy lại khi lập bí tích Thánh Thể (Mc 14, 24; Mt 26,28; Lc 22, 20b…); Và Đức Giêsu đã thay thế máu chiên bò bằng chính Máu của Người tạo nên Giao Ước vĩnh cửu, Giao Ước thứ tha phục hồi nhân loại.

4. TÓM KẾT

Ngay từ trong công trình sáng tạo, Thiên Chúa đã muốn liên kết nên một với con người: Người đã dựng nên con người theo hình ảnh Chúa, sống được nhờ “hơi thở” của Người và từng bước một cho con người hữu hạn được thông phần sự sống thần linh vĩnh cửu của Thiên Chúa qua việc ban cho “Trái Cây Trường Sinh”. Tiếc thay con người đã sa ngã…… Thiên Chúa không bỏ cuộc, Người tiếp tục công cuộc liên kết của Người qua các giao ước được hé mở dần dần qua dòng lịch sử: giao ước với Nôê, với Abraham, và hôm nay với một DÂN, biến dân đó thành CÁI NÔI dọn đường cho Đức Giêsu là chính Thiên Chúa đến nhập thể để thiết lập Giao Ước vĩnh cửu nối kết nhân loại với Thiên Chúa nên một.

Bài đọc 1 hôm nay thuật lại nghi thức kết ước bằng máu với Môisê được Thiên Chúa chọn làm trung gian đứng ra chủ sự mọi việc. Điều Thiên Chúa cần từ phía dân là LẮNG NGHE LỜI NGƯỜI rồi tự nguyện CAM KẾT QUYẾT TÂM TUÂN GIỮ. Giao Ước bằng Máu báo trước Tình Yêu tha thứ vô bờ của Thiên Chúa tạo điều kiện để nhân loại được nên một với Người.

Thật vậy, theo truyền thống cổ xưa, Giao ước bằng máu là một nhắc nhở mang tính răn đe; ai vi phạm giao ước, máu người đó sẽ đổ ra như một án phạt. Thế nhưng trong Đức Giêsu, khi Máu Người đơn phương đổ ra thì “muôn người được tha tội” (Mt 26, 28); Máu đổ ra vì nhân loại để họ có được lương thần nuôi sống và kết hợp họ nên một cùng Thiên Chúa. Một Giao Ước thứ tha hướng về tương lai là bữa tiệc cánh chung, toàn thể nhân loại hưởng trọn niềm vui nên một cùng Thiên Chúa (x. Mc 14, 25).


TIN MỪNG: Mc 14, 12- 16. 22-26

Văn mạch

Bài đọc Tin Mừng hôm nay gồm hai trích đoạn ngắn không liên tục, được diễn ra trong khung cảnh của ngày người Do Thái ăn mừng lễ Vượt Qua. Những gì Marcô trình bày trong ngày trọng đại này bao gồm hai yếu tố hoàn toàn đối nghịch nhau: một bên đầy hận thù, bội phản đến từ phía những con người đang xoay quanh Đức Giêsu; và bên kia là những nét toát lên tình yêu, lòng tha thứ đến từ phía Đức Giêsu. Những tình tiết ấy được Marcô  đặt xen kẽ nhau tạo nên bản văn vọng lại những gì liên quan tới Đức Giêsu trong ngày Người dùng bữa ăn cuối cùng với các môn đệ (Mc 14, 1-31). Cấu trúc bản văn:

a, 14, 1-2: các thượng tế, kinh sư mưu toan bắt giết Đức Giêsu.

 b, 14, 3- 9: Một người phụ nữ (Marcô không nói rõ là ai) xức dầu thơm hảo hạng trên đầu Đức Giêsu. Hành vị đó, được Đức Giêsu cắt nghĩa là báo trước việc ướp xác mai tang Người (c.8).

c, 14, 10- 11 Giuđa bội phản, tìm gặp các thượng tế để nộp Đức Giêsu.

d,  14, 12- 16:  Thầy trò Đức Giêsu chuẩn bị nơi chốn để ăn lễ Vượt Qua.

e, 14, 17 -21: Đức Giêsu báo Giuđa sẽ nộp Người.

f,  14, 22- 26:  Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể.

g, 14, 27 – 31: Đức Giêsu báo trước Phêrô sẽ chối Thầy.

    Bài đọc Tin Mừng là hai phần “d” và “f”. Giữa bầu khí hận thù, tham tiền, bội phản, sẽ đưa tới cái chết của Đức Giêsu và Máu Người sẽ đổ ra thì Đức Giêsu đã đáp lại bằng một tình yêu tha thứ, trao ban sự sống. Hành vi yêu thương đó của Người đã biến máu đổ ra vì hận thù, bội phản, trở thành Máu Giao Ước đổ ra để tha thứ, làm thành lương thần nuôi sống nhân loại.

CẤU TRÚC VÀ CHÚ THÍCH

1.  Các chuẩn bị để ăn lễ Vượt Qua (Mc 14,12-16)

* Thời điểm: ngày thứ nhất tuần Bánh không men, ngày sát tế chiên vượt qua (14, 12a)

* Nơi chốn: các môn đệ hỏi Đức Giêsu dọn ăn lễ Vượt Qua ở đâu? (14, 12b)

* Đức Giêsu hoàn toàn làm chủ mọi tình huống: Người sai 2 môn đệ đi dọn với những lời chỉ dẫn cụ thể, như thể đã được sắp xếp trước tất cả (14, 13-15)

* Hai môn đệ vâng lệnh ra đi, và thấy mọi sự y như Người đã nói (14, 16)

Thời điểm: khoảng thời gian chuyển từ ngày 14 qua ngày 15 tháng Nisan, tức tháng 1. Lúc này người Do Thái mừng hai lễ cùng lúc:

- Lễ Vượt Qua là một lễ có nguồn gốc du mục được cử hành như sau: Sau trưa ngày 14 Nisan, người Do Thái sát tế con chiên Vượt Qua tại Đền Thờ, lấy máu bôi lên cửa nhà (Xh 12,6-7). Rồi ban chiều tối, tức bước qua ngày 15/1 theo cách tính ngày Do Thái, người ta ăn thịt con chiên đó (12,8).

-    Lễ Bánh Không Men cũng được mừng vào dịp đó: từ ngày 14, phải đưa men ra khỏi nhà và không được dùng bánh có men trong 7 ngày (Xh 12, 15-20). Bánh không men này làm với những hạt lúa mới gặt, không được trộn men, nghĩa là không có gì thuộc về mùa cũ: đó là một khởi điểm mới.

Đức Giêsu sắp dùng những yếu tố trong giao ước cũ để lập Giao ước mới.

Nơi chốn: Đức Giêsu và các tông đồ rao giảng lưu động, không có trụ sở cố định (x. Mt 8,20). Do đó các môn đệ mới hỏi Đức Giêsu về địa điểm mà nhóm sẽ ăn lễ Vượt Qua. Câu đáp của Đức Giêsu cho thấy Người đã sắp xếp hết mọi sự đâu ra đó đến từng chi tiết (24, 13-15). Hai môn đệ tuân lệnh thi hành ngay và “các ông thấy mọi sự y như Người đã nói”. Chi tiết trên cho thấy Đức Giêsu làm chủ mọi tình huống và sắp xếp mọi sự theo ý muốn của Người. Phối hợp thêm với các chi tiết ở các phần b, e, g chúng ta có thể nói Đức Giêsu đang điều khiển mọi biến cố theo ý Người. Chính với uy quyền của “Đấng làm chủ mọi sự” như thế, Đức Giêsu báo Giuđa nộp Người, Phêrô chối Người và nhất là Người lập Bí Tích Thánh Thể.

Cách thức mô tả việc sửa soạn (14,13-15) cho thấy Đức Giêsu hoàn toàn nắm thế chủ động: Người biết rõ mọi diễn tiến đến từng chi tiết nhỏ. Tất cả nói lên sự quyết tâm và tự nguyện của Người với tư cách là người chủ đang điều khiển các biến cố: “không phải các biến cố đến gặp Đức Giêsu, nhưng chính Người tiến về chúng. Con Người không chịu được cách thụ động, Người điều khiển cách chính xác diễn tiến các sự kiện xảy ra”. (Chú giải Phúc Âm Chúa Nhật B MTN trang 642) Marcô kín đáo trình bày Đức Giêsu như người chủ đang sắp xếp mọi sự theo ý mình và mọi sự đều diễn ra đúng như vậy: Quyền năng của một Vị Thiên Chúa đang hé lộ, và chính trong tư cách đó Đức Giêsu thực hiện mọi việc tiếp theo, chóp đỉnh là lập bí tích Thánh Thể.

2. Lập Bí tích Thánh Thể (Mc 14,22-25)

❖ Thời điểm: “ cũng đang bữa ăn” (c. 22a) tức Tiệc Vượt Qua (c.15)

❖ Lập bí tích:
- Truyền phép Bánh: “... Anh em hãy cầm lấy đây là Mình Thấy (c.22b)
- Trao ban chén rượu cho các ông và tất cả đều uống (c.23)

❖ Ý nghĩa mới của Tiệc Vượt Qua:  Giao ước mới được thiết lập bằng Máu của Đức Giêsu thay thế máu chiên vượt qua: “Đây là Máu Thầy, máu Giao Ước đổ ra vì muôn người”. (c.24)

❖ Mặc khải khía cạnh cánh chung của Giao ước mới: “ Amen. Thầy bảo anh em… cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (c.25)

“ Cũng đang bữa ăn”: so với Mc 14,15 thì bí tích Thánh Thể được lập trong bữa Tiệc Vượt Qua của Do Thái giáo. Đây là phần chính của bữa ăn Vượt Qua là ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng (x.Xh 12,8). Ở đây Đức Giê cử hành các nghi thức cũ (nâng bánh và chén rượu mà chúc tượng tạ ơn Thiên Chúa), nhưng mặc cho những động tác đó một ý nghĩa mới về bí tích. Mình và Máu Người. Như thế là Người lập nền phụng tự mới. (x.CGKPV “Tân Ước” 1995 trang 154 nốt “u”). 

Để dễ hiểu hơn những gì các sách Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại trong trình thuật lập bí tích Thánh Thể, cũng nên biết qua diễn tiến của bữa ăn Vượt Qua Do Thái giáo. Và mỗi tác giả chỉ sử dụng những yếu tố phù hợp với ý Thần Học của mình

NGHI THỨC BỮA TIỆC VƯỢT QUA CỦA DO THÁI GIÁO

1. Phần khai mạc
*Gia chủ bắt đầu bữa ăn bằng lời chúc tụng và tạ ơn trên rượu và uống chén rượu 1 (Lc 22,17 và x.CGKPV, Sđd trang 365 nốt “g”)

*Dọn ra bàn: rau đắng, bánh không men và thịt chiên

*Giải thích lịch sử, ý nghĩa của đêm Vuợt Qua: mặc dù mọi người đã thuộc nằm lòng ý nghĩa của lễ, nhưng vào lúc này, người nhỏ tuổi nhất trong nhà sẽ đứng lên hỏi “Bữa tiệc này có ý nghĩa gì”? Và gia chủ sẽ giải đáp.

* Hát Tv 112: “Hỡi tôi tớ Chúa hãy dâng lời ca ngợi”
và Tv 113A: “Thuở Israel ra khỏi Ai Cập…”

* Cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng, bẻ ra trao cho những người đồng bàn (Mc 14,22; Lc 22,9; Mt 26,26)
* Uống ly rượu 2 ( chỉ có Mc 14,23 ghi lại chi tiết này) (sđd 225 “k”) 

2. Phần chính: BỮA TIỆC

*Ăn thịt chiên và rau đắng

3. Phần kết thúc

*Rửa tay rồi uống chén rượu 3 (Lc 22,20; Mc 14,24, Mt 26,27)

Truyền phép rượu. Đức Giêsu dùng chén rượu 3 này để tuyên bố lập Giao tới mới.

*Hát các TV 113B, 114, 115, 116, 117.

*Uống chén rượu 4. Kết thúc.

“Cầm lấy bánh ... bẻ ra, trao cho các ông”:  mặc dù đặt tiệc ly trong khung cảnh lễ vượt qua. Marcô không nhấn mạnh đến diễn tiến trong nghi lễ Do thái, Đức Giêsu lấy lại những yếu tố của Giao ước cũ để lập Giao Ước mới: thay vì ăn thịt con chiên vượt qua thì Đức Giêsu truyền môn đệ cầm lấy miếng bánh giờ đây đã thành “đây là Mình Thầy”. Đức Giêsu không hủy bỏ cái cũ, nhưng kiện toàn, nhờ vậy Giao Ước mới bao trùm, đảm nhận luôn tất cả những thực tại cũ. Từ nay trên bàn thờ của Giáo Hội, toàn thể vũ trụ và tế tự được qui tụ lại trong “Tấm Bánh” này.

Việc bẻ bánh và phân chia bánh hàm ý rằng tất cả thực khách được nên một nhờ dùng chung một tấm bánh, có chung một sự sống. Hai động tác này diễn tả tính cộng đoàn, hiệp nhất của bữa tiệc ly.

“Và Người cầm chén rượu...rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này” (c.23). Rồi sau đó Người mới đọc lời truyền phép “Đây là Máu Thầy, máu Giao Ước đổ ra vì muôn người” (c. 24).

Như vậy theo Maccô đã uống chén rượu, trước khi được truyền phép. Có lẽ đây là chén rượu thứ hai trong nghi thức Do Thái mà chỉ có một mình Maccô ghi lại. Vậy Mac cô đã tách riêng ra hai lần truyền phép với nhau. 

Chắc Maccô muốn gợi lại hai dạng kết giao ước tại Sinai: kết ước bằng máu (x. Xh 24,8); và bằng bữa ăn (x. Xh24, 9-11). 

Câu 23, Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể để làm của ăn nuôi đoàn dân mới vượt qua sa mạc trần thế về đến Quê hương đích thực. 

Câu 24, “Đây là Máu Thầy...”: Bí tích Thánh Thể được trình bày như Giao Ước mới. Đức Giêsu dùng lại gần như nguyên văn lời kết ước bằng máu của Xuất hành 24,8. Máu rảy trên dân và đổ trên bàn thờ (Xh 24, 1-8) nói lên việc Thiên Chúa và Israel đi vào tương quan mới: Chúa và dân hiệp thông trong một sự sống (Máu biểu tượng của sự sống)

Trong bữa Tiệc ly, Máu của Đức Giêsu là yếu tố nhờ đó Giao Ước Mới được thiết lập. Máu của Người cũng là dấu chỉ của sự hiệp thông mới giữa Thiên Chúa và dân mới là toàn thể cộng đồng tín hữu. 

“Máu đổ ra vì muôn người”: ám chỉ cái chết trên Thập Giá. Cái chết của Đức Giêsu có giá trị đền tội thay cho muôn người (nghĩa là cho MỌI người theo đặc ngữ Hipri) nghĩa là đem ơn cứu độ cho mọi người (Sđđ 228 nốt “K”). 
Amen lêgo humin: Thầy bảo thật anh em (Mc 14, 25).

c.25 hướng độc giả về thời cánh chung sau khi lịch sử nhân loại chấm dứt. Lúc đó Đức Giêsu và các tín hữu được cứu độ sẽ uống rượu mới tại bữa tiệc cánh chung trong Nước Thiên Chúa. Đó là một hình ảnh dùng diễn tả sự hợp nhất nên một, sự hiệp thông trọn vẹn và chung cuộc của các môn đệ với Đức Giêsu và với Thiên Chúa (Sđđ 225 “k” triệt 3).

TÓM KẾT
Trích đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể trước khi tự hiến trên Thập Giá để cứu nhân loại và đưa toàn thể tạo vật, vũ hoàn lên cùng Cha. Hành động đó của Người đã biến đổi bộ mặt hung tàn của Thập Giá án phạt trở thành Thập Giá Hiến Tế, nên Tình Yêu tự nguyện tiến dâng Cha vì ơn cứu rỗi vũ hoàn. 

Phần đầu của bài đọc Tin Mừng, Maccô đã kín đáo mặc khải Đức Giêsu là Thiên Chúa: Người làm chủ mọi tình huống và không chi tiết nào thoát khỏi tầm kiểm soát của Người. Tình Yêu tự nguyện và chủ động của Người hướng dẫn các môn đệ từng bước một đi vào huyền nhiệm thần linh của bản thân Người. Với và trong tư cách là Thiên Chúa vừa mới được hé lộ đó, Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. 

Nơi bản thân mình, Người đảm nhận và đưa tới chỗ hoàn tất những hình thức của Giao Ước cũ qua bữa ăn và Giao Ước bằng máu; Đồng thời thay thế Giao Ước cũ bằng chính con người của mình: Người biến mình thành lương thực thay thế thịt Con chiên hiến tế để giải cứu, xóa tội dân mình; Máu Người cũng là Giao Ước mới đưa dân mới đi vào tườn quan mới, sự sống mới vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Từ nay tất cả mọi thực tại nhân sinh trần thế (bánh, rượu, hoa màu ruộng đất, lao công con người, máu và kể cả cái chết) đều được Người đảm nhận và biến chúng thành phương tiện đưa vũ hoàn vào cuộc sống thần linh vĩnh cửu. 

Cái thực tại trần thế không còn là chướng ngại ngăn cản con người đến với Thiên Chúa nữa mà là phương tiện nối kết con người với Thiên Chúa, hiệp nhất nên một với Thiên Chúa. Trong tấm bánh Thánh Thể, Thiên – Địa – Nhân, quá khứ, hiện tại tương lai hoàn toàn quyện nên một cách hoàn hảo (x. GLHTCG số 1374 và 1376), hướng về ngày Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự (1 Cr 15, 28).