CHÚA NHẬT XI A THƯỜNG NIÊN
Xh 19,2-6a; Mt 9,36 – 10,8
Chủ đề: Mầu nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa


* Xh 19,5b.6a: Vậy giờ đây… giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta… một vương quốc tư tế, một dân Thánh.

* Mt 10,1: Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế… và chữa hết các bệnh tật. Rồi sai các ông đi và chỉ thị (câu 5). Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy (câu 8).

Theo lịch phụng vụ, chu kỳ A, năm 2023 thì Chúa Nhật ngay sau lễ Mình Máu Thánh Chúa là Chúa Nhật XI A. Lời Chúa hôm nay mời tín hữu chiêm ngắm Mầu Nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa – Thiên Chúa hoàn toàn chủ động và tự do trong việc tuyển chọn của Người. 

Trong bài đọc 1: giữa hết mọi dân tộc, Thiên Chúa đã chọn dân Israel làm sở hữu riêng của Người (Xh 19,5); Còn trong bài đọc Tin Mừng, giữa đám người đông đảo đi theo nghe Người, Đức Giêsu đã gọi chọn riêng mười hai vị và được Matthêu gọi là tông đồ.

Chúa gọi chọn các đối tượng không phải vì họ thánh thiện, đạo đức, tài giỏi, trổi vượt hơn kẻ khác. Phần Chúa, không phải vì Người thiên vị, thân quen, thế giá… Nhưng tất cả chỉ vì Thiên Chúa là Tình Yêu, Người có một dự tính yêu thương và Người muốn mời họ cộng tác cách đặc biệt vào công trình của Chúa.

Dưới cái nhìn so đo của người đời, người ta nghĩ rằng những kẻ được Chúa chọn cộng tác đặc biệt vào công trình của Chúa chắc sẽ được phần thưởng lớn hơn, ưu đãi hơn… Nhưng thật ra trong dự tính đời đời của Thiên Chúa thì tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, phần thưởng chung cuộc cho mọi người là “gia đình sum họp”, tất cả mọi người đều hiệp nhất “ở trong Thiên Chúa” và “ở trong nhau”; Tất cả thành một nhiệm thể; Những khác biệt bên ngoài chỉ là sự bổ sung lẫn nhau giữa các chi thể trong Nhiệm Thể với nhau. Những khác biệt ấy không phải là “hơn thua” mà chỉ là bổ sung cho nhau, giúp nhau hoàn thiện.

Như vậy, tất cả mọi người đều được Chúa chọn gọi và được trao cho một vị thế bất khả thay thế trong Nhiệm Thể Đức Kitô và mỗi người đều lãnh nhận một sứ mạng từ Cha: như Cha sai Thầy, Thầy cũng sai anh em (Ga 20,21).

Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến số ơn gọi đặc biệt và nổi bật hơn nhằm làm rõ ý nghĩa của ơn gọi: Chúa chọn gọi là để các đối tượng ý thức được vị trí quan trọng mà Chúa muốn trao cho mình đồng thời phải nỗ lực đáp lại trở thành “cánh tay nối dài” của Chúa trong lãnh vực, vị trí đã được Chúa trao, một cách tương ứng.

Vậy được Chúa gọi cách đặc biệt là vì lợi ích chung của toàn Nhiệm Thể. Tuy nhiên Thiên Chúa cũng không quên “phần thưởng” dành cho kẻ được gọi mời: ngay trong ơn gọi đã ẩn chứa phần thưởng rồi: 

Trong bài đọc 1: đối tượng được Chúa gọi chọn là dân Israel. Họ không có gì nổi bật về bất kỳ lãnh vực nào; Họ chỉ là một dân (đúng hơn lúc được Chúa gọi mời ký Giao Ước, họ chỉ mới là một đám nô lệ, vô kỷ luật) “ở giữa mọi dân” như bao dân khác thôi. Nhưng Chúa chọn họ vì Người có một dự tính cho toàn vũ trụ, và vào thời điểm đó, vai trò cụ thể ngay thời điểm đó được nổi bật: Chúa muốn chọn họ làm “sở hữu riêng của Chúa”, làm “vương quốc tư tế” làm “dân Thánh” … cách chung là làm một “mắc xích” không thay thế được trong một giai đoạn lịch sử cứu độ.

Và phần thưởng lớn nhất họ nhận được vào ngay lúc đó là từ một đám nô lệ vô kỷ luật, họ nhận được Luật, thành một dân, thành những con người tự do đích thực có quyền ký Giao Ước, tự quyết định vận mạng của mình.

Trong bài Tin Mừng: Đức Giêsu chọn Nhóm Mười Hai từ giữa đám đông. Không có một chi tiết nổi bật nào nơi mười hai con người này cả. Và họ được chọn không vì cá nhân họ, mà vì lợi ích cộng đoàn: “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Mt 9,37). Họ không còn làm theo ý riêng nữa mà làm những gì Chúa sai bảo, dạy những gì Chúa nói (Mt 10,5b-8a) và phục vụ với tinh thần vô vụ lợi (10,8b).

Phần thưởng trước mắt của Nhóm Mười Hai là gì? Thân phận đổi thay từ một nhóm ngư phủ dốt nát, trở thành tông đồ của Đấng Mêsia. Họ được thông phần quyền năng và sứ mạng của Người.

Tiếp tục sứ mạng của tuyển dân Do Thái, tiếp tục sứ vụ Đức Giêsu đã trao cho Nhóm Mười Hai, mỗi tín hữu, mỗi cộng đoàn kitô giáo phải là dân riêng, dân tư tế, dân Thánh của Thiên Chúa qua việc tuân giữ Luật Mới của Đức Giêsu. Tiếp tục sứ vụ của các tông đồ, các tín hữu phải là cánh tay nối dài của Đức Giêsu với tinh thần phục vụ vô vụ lợi.



SUY NIỆM MÙA THƯỜNG NIÊN XI A


Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít (Mt 9,37) … Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại (10,1) … sai các ông đi (10,5) … hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần (c.7) … Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy (c.8b).

    Lời Chúa của Chúa Nhật XI A nói về chủ đề ƠN GỌI. Khi nghe nói đến “ơn gọi” ta thường nghĩ đến “người được gọi”, tức là nhìn vấn đề từ phía con người. Thực ra người chủ động mọi sự chính là Thiên Chúa: không phải anh em chọn Thầy mà chính Thầy chọn anh em; Và Chúa cũng đã dự tính trước các phương thế hành động để giúp môn đệ thành công theo ý Chúa (Ga 15,16).

1. Mầu nhiệm tuyển chọn là dự tính của Thiên Chúa
Từ thuở đời đời, Thiên Chúa đã có một dự tính yêu thương dành cho toàn thể vũ trụ này, chứ không chỉ riêng gì cho con người. Và dự tính yêu thương đó được biểu lộ dần qua dòng lịch sử: sáng tạo, cứu chuộc, thánh hóa. Mọi cản trở đều không ngăn chặn được dự tính đó sẽ hoàn tất. Tuy nhiên do con người được Chúa để tự do và đã lạm dụng, ương bướng trước các dự tính của Chúa, nên tùy lúc, tùy hoàn cảnh, Thiên Chúa vẫn có những phương thế thích hợp để chỉnh sửa con người và đưa dự tính của Người đến chỗ hoàn tất.

Lời Chúa hôm nay trình bày hai thời điểm đặc biệt trong công trình của Thiên Chúa: Chúa tuyển chọn DÂN CHÚA. Thiên Chúa đang từng bước xây dựng, hoàn thiện những yếu tố nền tảng để dần dần hình thành cộng đoàn dân Chúa.

Bài đọc 1 trích từ sách Xuất Hành, thuật lại việc Thiên Chúa Yavê tuyển chọn Israel làm dân riêng, dân tư tế, dân thánh của Chúa. Chúa đã phải làm một công việc chỉnh sửa, tẩy rửa toàn diện. Họ chỉ là một đám nô lệ sắp bị tuyệt chủng; Thiên Chúa từng bước biến họ nên một DÂN TỰ DO. Phương thức Chúa làm là: giải cứu họ, ban Luật, ký kết Giao Ước với họ. Và rồi cho dù họ bất xứng thì Chúa vẫn giữ lời cam kết với họ: từ đám nô lệ bất xứng này, Chúa đang chuẩn bị cho ra đời DÂN ĐÍCH THỰC của Chúa, là Giáo Hội. 

Thật vậy trong bài đọc Tin Mừng, phát xuất từ hậu duệ của đám nô lệ bất xứng trên, Thiên Chúa vẫn cho Đấng Cứu Tinh nhập thể; Và từ đám hậu duệ cũng ngổ ngáo như cha ông họ, Vị Cứu Tinh thần linh đến từ Thiên Chúa đó đã tuyển chọn ra Nhóm Mười Hai, kèm theo các chỉ thị, mệnh lệnh bổ sung biến họ nên cánh tay nối dài của Đấng Thiên Sai, tiếp tục rao giảng về Nước Trời và thực thi ơn cứu độ cho toàn thế giới. Họ chính là nền tảng vững chắc được Đức Giêsu chuẩn bị cho việc xây dựng Giáo Hội sau này.

Việc Thiên Chúa tuyển chọn được hai bài đọc thuật lại trong vài hàng ngắn ngủi, vài chi tiết của hai biến cố lịch sử: lời Thiên Chúa mời Israel qua trung gian Môsê kết Giao Ước với Chúa để làm DÂN CHÚA (bài 1) và việc Đức Giêsu tuyển chọn Nhóm Mười Hai từ giữa đám dân đang theo Người (Tin Mừng).

Đối với con người hữu hạn, các chi tiết trên chỉ là những biến cố lịch sử chóng qua, xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn ngủi của cả dòng lịch sử. Nhưng đối với Thiên Chúa, đó là những MẦM SỐNG THẦN LINH được Thiên Chúa gieo vào dòng lịch sử, gieo vào bản thể nhân loại chuẩn bị cho việc con người được thông hiệp vào bản tính thần linh của Thiên Chúa, chuẩn bị cho ngày Trời Đất Mới xuất hiện. Đó là những thời điểm MẮC XÍCH Thiên Chúa dùng những kẻ được tuyển chọn để nối toàn thể các giai đoạn khác nhau của lịch sử cứu độ thành một công trình duy nhất. Tất cả đều được Thiên Chúa đón nhận và cứu độ. Mọi tuyển chọn được Chúa gọi mời đều nhằm mục đích ấy.

2. Phần kẻ được chọn: hãy can đảm để Thiên Chúa hoàn tất dự tính yêu thương của Người nơi bản thân. Chúa tuyển chọn một người chủ yếu không phải để làm một công việc cụ thể nào đó mà là để thiết lập một mối tương quan mới. Vì thực ra, đối với Thiên Chúa không gì là không có thể (x. Gr 32,27; Lc 1,37). Nhưng Chúa luôn tôn trọng tự do của con người, là con cái, hình ảnh Thiên Chúa. Điều Chúa chờ đợi nơi kẻ được chọn là tình thân, tin tưởng, tín thác trọn vẹn đối với Thiên Chúa, hoàn toàn “thờ lạy Thánh Ý Thiên Chúa trong mọi sự đối với tôi” (Gioan La San, Thánh Lập Dòng La San). Bài đọc 1 diễn tả bằng cách nói: thành dân riêng, dân thánh của Thiên Chúa; Còn Tin Mừng nói rằng các tông đồ trở nên thừa tác viên của Thiên Chúa, tác nhân thi hành dự tính, lệnh truyền của Thiên Chúa theo cách thức Thiên Chúa hướng dẫn, với những phương tiện, uy quyền Chúa ban (chứ không tùy tiện làm theo sở thích) trong tinh thần phó thác phục vụ hoàn toàn vô vụ lợi.

Như vậy người được Chúa tuyển chọn bắt đầu một cuộc sống mới; Một vận hội mới đang chờ đón họ. Cuộc đời họ lật sang một trang mới, từ nay:

-    Họ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, lẽ sống của họ là làm theo ý Chúa.

-    Họ phục vụ tha nhân vô vụ lợi: rao giảng, chữa lành, trừ quỷ.

-    Đức Giêsu hoàn toàn làm chủ cuộc đời họ: “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

 

BÀI ĐỌC I: Xh 19,2-6a
Sau khi được Thiên Chúa can thiệp (mười tai ương) giải cứu khỏi bàn tay Pharao, vua Ai Cập, và vượt Biển Đỏ cách diệu kỳ, dân Chúa tiếp tục tiến vào sa mạc là nơi không còn cảnh áp bức, đòn vọt, là nơi họ có thể tiếp cận được với Thiên Chúa của mình để bắt đầu cuộc sống tự do của con dân của Chúa. Tuy nhiên vào thời điểm ra khỏi Ai Cập, Israel vẫn chỉ mới là một đám nô lệ, ô hợp, vừa mới chạy thoát khỏi tay bạo quyền. Dòng máu nô lệ vẫn còn đầy trong huyết quản của họ. Do đó, họ cần được “lọc máu” để biến đổi họ nên những con người có năng lực làm chủ cuộc đời mình hầu sau này có thể trở nên chủ nhân thật sự của Đất Hứa. Thật vậy, vào thời điểm này, họ chỉ là một đám ô hợp, dễ nổi loạn, không biết phải trái là gì, chỉ muốn thụ hưởng cách thụ động chút nào hay chút đó cách ích kỷ cho cá nhân mình hơn là cố gắng vượt khó vươn lên, hiệp nhất lại thành một dân.

Vậy điều tiên quyết là phải có một yếu tố nào đó siêu vượt khống chế được tính nô lệ, vô tổ chức trong họ, đủ sức thuyết phục, kiềm chế đưa họ vào kỷ cương, nề nếp, và nhất là kết nối họ thành một khối thống nhất trong hiện tại và sau này biến họ thành một dân tộc đúng nghĩa, để cuộc đời họ có được một lẽ sống, một cùng đích phải tới.

Tự sức của đám nô lệ, họ không thể tìm ra được đáp số đó. Chính Thiên Chúa đã chuẩn bị ban cho họ yếu tố cần thiết đó: LUẬT GIAO ƯỚC. Với ân huệ này, Israel chính thức thực thụ trở thành một dân: dân riêng của Thiên Chúa, dân tư tế và dân Thánh. 

Bài đọc 1 hôm nay trích đoạn Thiên Chúa đến với dân và qua trung gian Môsê, đề nghị dân kết Giao ước với Người biến họ trở thành dân riêng của Người giữa muôn dân tộc.

1. Dân Chúa tới núi Sinai (Xh 19,2)
•  Núi Sinai:
đây là tên gọi theo truyền thống J và P; còn E và D gọi núi này là Khorep. Trong sách các Vua, những phần được soạn chịu ảnh hưởng của Đệ Nhị Luật cũng gọi núi này là Khorep, như trong chuyện Elia 1V 19,8. Về vị trí địa lý của Sinai, xin xem “Ngũ Thư của CGKPV trang 171 “r” và 212 “p”.

Đây là nơi Môsê đã được Chúa mặc khải thánh danh và trao cho sứ mạng giải cứu, chăn dắt dân Chúa; Cũng chính nơi đây, Elia đã đến gặp Chúa để lấy lại sinh lực tiếp tục sứ vụ của mình. Vậy Sinai là biểu tượng của cả Cựu ước mà Môsê và Elia là đại diện: Luật + Ngôn Sứ.

Tại đây đã diễn ra biến cố trung tâm của Cựu ước: Thiên Chúa thiết lập giao ước với dân Người. Từ nay Thiên Chúa đồng hành với dân một cách hữu hình qua Hòm Bia Giao Ước. Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta vào giai đoạn đầu của việc kết ước này: Thiên Chúa đề nghị kết Giao Ước.

2. Thiên Chúa đến và đề nghị kết giao ước với dân (Xh 19,3-6a)
• Từ trên núi Yavê gọi Môsê và phán:
Môsê vẫn là trung gian giữa Chúa và dân, Chúa đề nghị với dân qua Môsê: Lần gặp gỡ này, Chúa đến cách nhẹ nhàng bình an không làm dân sợ hãi. Người không muốn làm áp lực trên dân, muốn dân có được bầu khí thuận tiện để sử dụng tự do của mình một cách có ý thức, trọn vẹn mà chọn lựa Chúa. Còn khi kết ước thì Chúa biểu lộ sự thánh thiêng uy dũng của Người là để cho dân thấy rằng Người đủ quyền năng thực thi lời Giao Ước, đồng thời nhắc dân tầm quan trọng của Giao Ước: mỗi khi vi phạm là chạm đến sự uy linh thánh thiện của chính Thiên Chúa.

• Lời đề nghị của Thiên Chúa gồm ba chiều kích:
- Quá khứ: “Các người đã thấy ta đã xử với Ai Cập như thế nào và đã mang các người như trên cánh chim bằng mà đem đến với Ta” (Câu 4). Trước khi đi vào nội dung chính, Thiên Chúa nhắc lại những kỳ công Chúa đã thực hiện cho dân trong quá khứ. Đây là một bằng chứng về quyền năng và lòng trung tín của Thiên Chúa, là một bảo đảm cho dân rằng Chúa sẽ tiếp tục như thế trong hiện tại và tương lai cho dân nếu họ đồng ý kết ước với Người. Những gì Chúa đã làm đó chỉ mới là khúc dạo đầu, Người còn muốn đưa dân tiến xa hơn nữa vào trong mối tương quan thiết nghĩa với Người.

- Hiện tại: “vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng ta và giữ giao ước của Ta” (c.5a). Giao Ước chính là Luật Giao Ước, là yếu tố quyết định kết nối dân với Thiên Chúa và kết nối họ lại với nhau thành một khối thống nhất, có quyền đón nhận hoặc khước từ nhưng không được đòi sửa đổi. Với luật Giao Ước, phẩm giá dân được nâng lên mức độ cao hơn: tự do bên ngoài (ra khỏi Ai Cập) được nội tâm hóa thành bản chất của dân, qua việc họ toàn quyền chọn lựa, quyết định cho vận mạng của mình.

Đáng quý hơn nữa, Giao Ước này không phải là sản phẩm của con người mà là sáng kiến, quà tặng của Thiên Chúa. Nó có năng lực đưa Israel đi vào trong mối tương giao thân tình thiết nghĩa với Thiên Chúa: trở nên sở hữu của Thiên Chúa, nên dân tư tế, thánh thiện của người giữa chư dân.

- Tương lai: - Thì giữa mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh (cc. 5b-6a). Đây là điều Thiên Chúa muốn thực hiện cho dân. Giao Ước này không là cùng đích, chỉ là phương tiện, Israel sẽ trở thành “sở hữu của Thiên Chúa, được Chúa coi là vương quốc tư tế, dân Thánh của Người” (x. CGKPV Ngũ Thư trang 212 “q”). Trong tương quan với Thiên Chúa, Israel chẳng những thuộc về Chúa mà còn nên giống Chúa là Đấng Thánh; Tuy nhiên, không vì thế mà họ cô lập với thế giới: họ thuộc riêng Thiên Chúa để trở nên tư tế làm trung gian giữa Thiên Chúa và thế giới, cũng như các tư tế là trung gian giữa dân Chúa với Chúa, để công bố huấn lệnh Chúa cho muôn dân (x. Xh 24,7. Đnl 27,9; Nê 8…), để hiểu ý Chúa, thờ phượng Chúa qua tế tự (x. Đnl 33,8a; Ep 44,23…)

3. Tóm kết: qua việc đề nghị ban Giao ước, Thiên Chúa muốn đưa công trình cứu độ của Người lên một mực độ cao hơn và mời dân Chúa Israel cộng tác. Tất cả những kỳ công trong quá khứ đều có vai trò chuẩn bị cho giây phút hiện tại. Để rồi, cái hiện tại ấy trở nên bệ phóng để Thiên Chúa tiếp tục mời gọi, hướng dẫn con người tiến về cái cùng đích chung cuộc mà tình yêu của Người đã dọn sẵn cho dân Người. Trong bài 1 hôm nay, cái hiện tại chính là sự tuyển chọn của Thiên Chúa và lời mời gọi dân đáp trả: Từ giữa muôn dân, Người đã chọn Israel làm sở hữu riêng, cho họ được đi vào, thông dự vào dự tính thần linh của Người, phần họ, họ có đủ tự do để chọn lựa. đáp trả để làm mình trở nên thành viên trong cộng đoàn ân phúc của Thiên Chúa.

 

TIN MỪNG: Mt 9,36 – 10,8
Trích đoạn bài đọc Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu chọn mười hai môn đệ gọi họ là “tông đồ”, ban cho họ quyền trừ quỷ và chữa lành các bệnh tật rồi sai họ đi loan báo Tin Mừng “Nước Trời đã đến gần”, kèm theo các phép lạ trừ quỷ, chữa lành. Bước đầu, Người truyền cho họ chỉ giới hạn lãnh vực hoạt động của họ trong các chiên lạc của Israel và công cuộc của họ phải hoàn toàn vô vụ lợi.

Trong Tin Mừng Matthêu, trích đoạn này là mở đầu của bài diễn từ thứ hai trong loạt 5 diễn từ cơ bản cấu tạo nên nội dung sách Tin Mừng Matthêu.

1. Bài giảng trên núi còn được gọi là “Hiến Chương Nước Trời” (Mt 5 – 7). Đây được coi như là bản tuyên ngôn khai mạc Nước Trời.

2. Bài giảng về sứ mạng truyền giáo (Mt 10): sau khi công bố Hiến chương Nước Trời (Mt 5 – 7) rồi đích thân đi rao giảng ở Galilê, vùng chung quanh biển hồ Tibêria (8,1 – 9,34). Giờ đây Đức Giêsu muốn mở rộng sứ mạng của Người và hướng về tương lai, Người chuẩn bị những kẻ kế thừa. Việc trước tiên là Người chọn và đào tạo đội ngũ những kẻ sẽ kế tuc công trình của Người, chọn “khung cán bộ”. Bài giảng 2 này là những mệnh lệnh, chỉ dẫn cần thiết cho họ khi đi sứ mạng.

3. Bài giảng bằng dụ ngôn (Mt 13,1-52) trình bày mầu nhiệm, tình trạng Nước Trời tại thế qua 7 dụ ngôn.

4. Bài giảng về Giáo Hội (Mt 18) nói về đời sống cộng đoàn trong nội bộ Giáo Hội gồm những cách ứng xử của các thần dân trong Nước Trời phải có đối với nhau: đừng gây cớ vấp phạm, tha thứ, sửa lỗi, hiệp nhất là các nét chính.

5. Bài giảng về Cánh Chung (Mt 24 – 25): Quang Lâm chắc chắn sẽ đến; Vậy trong hiện tại, các tín hữu là thần dân Nước Trời tại thế phải sống như thế nào để khi Quang Lâm đến, Nước Trời hiển trị thì tất cả sẽ mừng vui.

Bài đọc Tin Mừng là trích đoạn mở đầu của “Bài giảng 2”, Đức Giêsu đang chuẩn bị cho sứ vụ loan báo Tin Mừng trong tương lai, Người chọn 12 môn đệ, dặn dò chuẩn bị những điều cần thiết, những việc phải làm để đáp lại nhu cầu bao la của cánh đồng truyền giáo.

1. Lòng thương xót của Đức Giêsu: nguồn gốc sứ mạng của các tông đồ và Giáo Hội (Mt9,36-37)
• “Đức Giêsu thấy ĐÁM ĐÔNG”, “NGƯỜI CHẠNH LÒNG THƯƠNG”! Tình cảnh khốn cùng của con người và lòng lân tuất xót thương của Thiên Chúa là cội nguồn sứ mạng của các tông đồ và Giáo Hội. Ơn gọi không nhằm phục vụ lợi ích cá nhân, để cá nhân nên thánh một mình, mà là cho một SỨ MỆNH, CHO THA NHÂN, vì ơn cứu rỗi của cả nhân loại.

ĐÁM ĐÔNG như thế nào? “Như bầy chiên không người chăn dắt”. Người môn đệ được gọi và sai đi là để đáp lại nhu cầu này. Nói cách khác mọi hoạt động của người được sai đi đều phải nhắm tới đích quy tụ muôn dân về lại một đàn chiên, có chủ chiên chăn dắt là Thiên Chúa.

Đức Giêsu là mẫu mực của người được sai đi: người đã thấy, nhạy cảm và bức xúc trước nỗi khốn cùng, bơ vơ của đàn chiên. Người “chạnh lòng thương”.

• “Chạnh lòng thương” trong Cựu Ước, cách nói này thường được gán cho Thiên Chúa, dùng diễn tả tình thương của Người đối với dân (x. Xh 34,6; Is 54,7; Gr 31,20…)

Ở đây tình yêu này đã là khởi điểm cho sứ mạng của nhóm 12 và cũng là của toàn thể sứ mạng của Giáo Hội. Khi gán cho Đức Giêsu một thuộc tính của Thiên Chúa, Matthêu ngầm bảo Người chính là Thiên Chúa; Và như vậy sứ mạng của Giáo Hội có nguồn gốc thần linh chứ không do ý muốn, tham vọng của con người. Từ đó, đối với những kẻ được chọn, việc loan Tin Mừng không còn là chuyện muốn hay không muốn nữa, mà là một bổn phận buộc đến độ, theo Phaolô, nếu không làm sẽ bị chúc dữ (x. 1Cr 9,16-17).

• Vì họ như bầy chiên không người chăn dắt: một hình ảnh mượn từ Cựu Ước, nói lên tình cảnh khốn quẫn của dân Chúa trong tay của bọn mục tử xấu: họ bị các mục tử giả bóc lột, phân tán (x. Dcr 11,7-11; Gr 23,1-2; Ed 34,1-10…). Và cho tới giờ đây những kẻ gian ác ấy vẫn còn: Chúa ám chỉ đến những nhà lãnh đạo, hướng dẫn tinh thần đui mù của dân Do Thái (Mt 15,14; 23,16.24; 16,12…). Thực trạng ấy khiến dân Chúa trở nên xơ xác. Trong Cựu ước, để phục hồi đàn chiên, Thiên Chúa hứa chính Người sẽ đích thân chăm són đàn chiên (Ed 34,11-16), Người sẽ gởi một mục tử đích thật đến chăn giữ chiên (Ed 34,18-29). Lời hứa ấy nay được Thiên Chúa thực hiện trong Đức Giêsu: Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là mục tử nhà Đavit. Tuy nhiên trong bài Tin Mừng hôm nay thì rõ ràng Đức Giêsu chính là Thiên Chúa, Ngài đã “chạnh lòng thương” và “người mục tử” được Chúa sai đến đoàn chiên là CÁC TÔNG ĐỒ, và mở rộng ra là chính GIÁO HỘI.

Thật vậy đi xa hơn nữa đến tận nguồn của Giao Ước cũ, ta thấy cách nói “như bầy chiên không người chăn dắt” đã được đặt trên miệng Môsê trong Ds 27,16-17. Môsê nài xin Chúa ban cho dân một người lãnh đạo để dân đừng rơi vào thảm trạng “như đàn chiên không mục tử chăn dắt”. Đáp lại lời cầu khẩn đó của Môsê, Thiên Chúa chọn Giôsuê, sai Môsê chia cho Giôsuê một phần uy quyền của ông (Ds 27,28-30). Bài Tin Mừng cũng theo cấu trúc đó: - Chúa bảo hãy xin chủ ruộng gởi thợ gặt đến. – Tiếp đó Chúa chọn 12 - ban cho các ông một phần uy quyền của Người (Mt 9,28; 10,1).

Và cũng như xưa kia Giôsuê đã dẫn dân vào đất hứa với quyền lực do Môsê chuyển qua, thì nay các tông đồ (Giáo Hội) sẽ hướng dẫn đàn chiên và đưa về quê trời nhờ quyền năng Đấng Phục Sinh. Như vậy qua phần đầu của  bài Tin Mừng này, Mt đã kín đáo tuyên bố rằng Chúa Giêsu chính là Môsê mới (và còn hơn nữa Ngài chính là Thiên Chúa) và quyền dẫn dắt, chăn giữ đàn chiên từ nay thuộc về Giáo Hội. Vai trò của Giáo Hội vừa là một liên tục, tiếp nối với Cựu ước qua sứ mạng người mục tử, đưa đàn chiên về đất hứa; Nhưng cũng vừa là một bước đột phá nhảy vọt: từ nay không nhận quyền bính, sứ mệnh từ Môsê, từ Cựu ước nữa mà từ nơi Chúa Giêsu.

Chính vì thế Chúa Giêsu sắp sai nhóm Mười Hai đến với chiên kèm theo các quyền năng của Chính Ngài trao cho các ông. Các ông sắp trở nên mục tử mới của Israel. Đây vừa là một vinh dự vừa là một trách nhiệm nặng nề nhưng cao quý.

• Lúa chín đầy đồng: hình ảnh thứ hai được Đức Giêsu dùng để giải thích cho việc Người sai Nhóm Mười Hai là “MÙA GẶT” (câu 37)

Trong Cựu ước, mùa gặt thường được dùng để chỉ sự can thiệp chung cuộc của Thiên Chúa để cứu dân ngay lành, xét xử kẻ gian ác (Is 27,12; Ge 4,13…)  Với Đức Giêsu, thời cùng tận ấy đã khởi đầu và được chia làm hai giai đoạn:|

-    Giai đoạn đầu: thời cùng tận khai mạc và diễn ra ngay trong dòng lịch sử ngang qua sứ vụ của Đức Giêsu và Giáo Hội. Tất cả ý định của Thiên Chúa được tỏ lộ hết và Thiên Chúa mời con người hoán cải.

-    Giai đoạn kết thúc: chính là lúc dòng lịch sử chấm dứt. Lúc ấy mới là phán xét chung thẩm (x. Mt 13,30.41.49)

-    Trong khi chờ đợi ngày ấy đến, Giáo Hội tiếp tục sứ vụ mời gọi của Đức Giêsu. Tin Mừng hôm nay cho thấy giây phút mở đầu của sứ vụ ấy của Giáo Hội: sứ vụ nhóm Mười Hai. Vậy được gọi không phải là để khép kín trên cá nhân/ nhóm của mình mà là mở ra cho một sứ vụ phổ quát.

2. Sứ vụ của các tông đồ: Mt 9,38 – 10,6
- Vậy anh em hãy xin:  sứ vụ đầu tiên là CẦU NGUYỆN. Vì cứu độ “thu hoạch mùa vụ” trước tiên là công cuộc của CHA. Cầu xin gì? Xin chủ ruông “SAI thợ ra gặt lúa về”. Chúng ta phải đi vào kế hoạch của Thiên Chúa chứ không làm theo hứng khởi, nhiệt tâm của mình, vì Chúa có lối hành động khác chúng ta: ví dụ về dụ ngôn cỏ lùng trong lúa… chủ bảo chờ mùa gặt thay vì làm cỏ ngay.

Cầu nguyện là sứ chính yếu dành cho mọi người không trừ ai (câu 37).

- Chủ ruộng sai thợ…Sau khi cầu nguyện, phó thác tất cả mọi sự cho Thiên Chúa, bước tiếp theo mới là HÀNH ĐỘNG. “Hành động ở đây không phải là tự ý “lội xuống ruộng gặt lúa”; Mà là đợi chờ, đón nhận ý Cha, đón nhận “thợ” Cha sai tới.

Công việc thu hoạch 
Công việc thu hoạch vụ mùa là của Cha. Kẻ rat ay “cắt lúa” là “THỢ”, mà là thợ do Cha gởi tới, sai đến. Mỗi cá nhân trong chúng ta không một ai có thể “tự phong” cho mình làm thợ được.

- Rồi Đức Giêsu gọi 12 môn đệ lại ban cho các ông được quyền (10,1): Con số 12 tượng trưng cho tính trọn vẹn của Giáo Hội, đồng thời nói lên sự liên tục giữa Giáo Hội Chúa Kitô và Israel xưa: cũng như Israel phát xuất từ 12 tổ phụ trưởng tộc, thì Giáo Hội Chúa Kitô cũng hình thành từ 12 Tông đồ (CGKPV – Tân Ước – 89 “b”).

Quyền Đức Giêsu trao ban là để giúp các môn đệ thi hành sứ mạng, đáp trả lại nhu cầu “bầy chiên không người chăn dắt”, “lúa chin đầy đồng”. Đức Giêsu trao ban cho họ chính quyền năng của Người (so 9,35 và 10,1).

Lưu ý: Làm các phép lạ không phải là cùng đích của sứ mạng các tông đồ mà chỉ là dấu chỉ: chính Đức Giêsu không chữa lành cả thế giới, không đáp trả lại mọi yêu cầu, đòi hỏi của con người thời Người. Vấn đề là TIN VÀO ĐỨC GIÊSU. Phép lạ là dấu chỉ cho thấy “vương quốc cánh chung” được Cựu Ước loan báo nay đã tới rồi trong Đức Giêsu.

- Tên 12 tông đồ: Lần duy nhất, Tin Mừng Matthêu gọi Nhóm Mười Hai là TÔNG ĐỒ.

• “Tông đồ” = apôstôlôs = người được sai đi. Tông đồ trước tiên là một sứ giả, một đại diện, một đặc sứ, đại sứ (ĐNTHTK “sứ đồ”). Vậy người tông đồ không phải là người tự đi tìm việc làm cho mình, làm theo sở thích, tài năng riêng mình; Mà là người biết lắng nghe, nói làm trung thực với những gì mình đã đón nhận.

• Được chọn làm tông đồ là cho một sứ mạng, chứ không vì một lợi ích nào của các cá nhân được chọn. Trong Matthêu, chiều kích sứ mạng được nhấn mạnh: Nhóm Mười Hai được chọn để đáp trả nhu cầu “lúa chín mà thiếu thợ”, được sai đến với nhà Israel. Trong Mc 3, 13-15 và Lc 6, 12-16 chỉ nói đến việc Đức Giêsu chọn Nhóm Mười Hai. MarcÔ và Luca nhấn mạnh khía cạnh ơn gọi.

Trong Matthêu “tông đồ” là “những Đức Giêsu nối dài”: Đức Giêsu là Đấng được Cha sai đi (x.Mt 10, 40), giờ đây Người sai các môn đệ (xem thêm Ga 20,21).

Tước hiệu “tông đồ” cũng nhắc lại cho tín hữu nhất là cho các tu sĩ trong đời tu Kitô giáo: sứ mạng và ơn gọi bắt nguồn từ sự chọn lựa của Thiên Chúa, của Đức Giêsu chứ không từ những khát vọng, nhiệt huyết của con người. Công cuộc là của Chúa và Chúa biết chọn người phù hợp với từng công cuộc của Người.

Đức Giêsu bảo các môn đệ hãy cầu nguyện xin chủ ruộng là Thiên Chúa gởi thợ đến (9,38) rồi ở đây Mt 10, 2-8 nói chính Đức Giêsu sai các môn đệ. Vậy môn đệ được Đức Giêsu chọn làm thợ gặt và Đức Giêsu chính là Thiên Chúa.

• Thành phần Nhóm Mười Hai rất đa dạng:
+ Dựa vào tên gọi: có những người mang tên Hi lạp: Anrê – Philipphê.

+ Có người là thu thuế: Matthêu.

Đa phần là ngư phù: Phêrô – Anrê – Giacôbê – Gioan.

+ Có người là thành viên của một nhóm chính trị quá khích: Simon Nhiệt Thành

+ Có người là môn đệ Gioan Tẩy Giả: Anrê – Gioan.

Sự tuyển chọn của Thiên Chúa là một mầu nhiệm, không tùy thuộc vào những yếu tố nhân loại; đạo đức. Tuy nhiên, một khi đã được chọn và đã đáp lời thì họ phải chấp nhận đường lối huấn luyện của Chúa để biến đồi mình nên một tông đồ của Chúa như Chúa muốn, để được Chúa sai đi làm công việc của Chúa.

Nếu không chấp nhận biến đổi mình theo đường lối Chúa thì tự mình sẽ loại mình ra khỏi nhóm như trường hợp Phêrô (ám chỉ bị mắng là Satan – chối Chúa) và tệ hơn nữa là như Giuđa. Trái lại, yếu tố chính để trở nên cột trụ của Giáo Hội là sự trung tín gắn bó với Thánh Giá và Phục Sinh của Đức Giêsu, kiên nhẫn chờ lãnh nhận Chúa Thánh Thần và liên kết chặt chẽ với nhau trong sứ mạng mà Đức Giêsu đã trao phó.

• Tại sao lại có lệnh truyền giới hạn phạm vi truyền giáo?
- Đừng đi về phía các dân ngoại, Samari… đây là đường lối sư phạm tiệm tiến: bước đầu chỉ với 12 mạng, sứ vụ tạm thời giới hạn trong Israel. Đây không phải là nguyên tắc vĩnh viễn của việc truyền giáo vì nó nghịch lại với lệnh truyền phổ quát của Đấng Phục Sinh (Mt 28,19-20). Đây là một bước trong kế hoạch dài hạn của Thiên Chúa: Trong xác phàm, Đức Giêsu cũng phải chịu những giới hạn, phải tiến từng bước một. Chỉ đến khi Phục Sinh, với quyền năng của một vị Thiên Chúa, Người mới mở rộng tầm hoạt động cho các tông đồ, cho Giáo Hội.

- Mặt khác Tin Mừng Matthêu được viết trước tiên cho người Do Thái, nên việc sai các môn đệ đến với các chiên lạc nhà Israel là Đức Giêsu muốn hoàn tất những lời sấm Cựu Ước về Đấng Mêsia, về vị mục từ nhân lành (x. Is 40,11; Ed 34,23; 37,24), qua đó tỏ mình cho họ thấy Người chính là Đấng Thụ Thác lời hứa của Thiên Chúa. Một lần nữa, một cách kín đáo nhưng mạnh mẽ, Matthêu mời dân Do Thái thức tình, nhận ra Đức Giêsu = Mêsia và tin vào Người.

3. TÓM KẾT: Tin Mừng hôm nay cho thấy cánh đồng truyền giáo quả thật mênh mông, và Thiên Chúa mời gọi con người quảng đại cộng tác vào công cuộc thu hoạch vụ mùa mà con một Chúa đã gieo vãi. Vậy đây là công cuộc của Thiên Chúa lẫn của con người được Chúa mời cộng tác.

- Thiên Chúa sẽ chọn thợ, sẽ đồng hành, ban quyền năng, ban Chúa Thánh Thần.

- Con người đóng góp bằng lời cầu nguyện, bằng ý thức sự cấp bách của việc truyền giáo và nhất là bằng dấn thân quảng đại vào cánh đồng truyền giáo trước mắt. Tuy nhiên sự dấn thân đó phải bắt nguồn từ Thiên Chúa, phải để Chúa Sai đi. Vậy để truyền giáo thực sự, phải biết Thấy, LẮNG NGHE tiếng Chúa, THẤY như Chúa, LÀM theo gương Chúa.

 

Pet. Đình Long, FSC