Mời gọi hưởng dùng lương thực thần linh - Chúa Nhật 20 Thường Niên Năm B

CHÚA NHẬT XX MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B
Cn 9,1-6; Ga 6,51-58
Chủ đề: Mời gọi hưởng dùng lương thực thần linh
* Cn 9,5: Hãy đến mà ăn bánh của Ta và uống rượu do Ta pha chế.
* Ga 6,55: Thịt tôi thật là của ăn và Máu tôi thật là của uống.
Lời Chúa của Chúa Nhật XX B Mùa Thường Niên tiếp tục khai triển chủ đề LƯƠNG THỰC: bánh thần linh, bánh từ trời, bánh mang lại phúc trường sinh. Điểm nhấn của Lời Chúa hôm nay là lời mời gọi tha thiết của người dọn lương thực, và thực đơn không chỉ là BÁNH mà còn thêm RƯỢU nữa: “Hãy đến mà ĂN, ăn BÁNH của Ta và UỐNG RƯỢU do Ta pha chế” (Cn 9,5); “Ai ăn THỊT và uống MÁU tôi thì được sống muôn đời…” (Ga 6,54). Chủ dọn bữa ăn thao thức chờ mong lời đáp trả của các khách được mời. Thức ăn của uống đã được dọn sẵn! Còn thái độ đáp trả của khách thì sao? Dù không trực tiếp đề cập đến thái độ chối từ, nhưng Lời Chúa hôm nay cũng cho thấy vài yếu tố có thể khiến các khách được mời chối từ thịnh tình của Chủ.
Sự ngây thơ, khờ dại, thiếu hiểu biết (x.Cn 9,6) và nhất là sự ngoan cố (c.7) là những rào cản khiến con người từ chối ăn lương thực thần linh. Còn trong Tin Mừng, những điểm yếu nói trên được hiển hiện rõ nét qua thái độ thiếu hiểu biết cứng lòng của đám dân cứ cho rằng họ biết rõ Giêsu là con ông thợ Giuse, rồi cứ khư khư dựa vào sự thiếu hiểu biết đó để từ chối lời mời gọi ăn thịt và uống máu Người của Đức Giêsu.
Để hưởng dùng được lương thực thần linh ấy, chúng ta phải ý thức đó là ân huệ nhưng không của Thiên Chúa giúp con người vượt thân phận giới hạn phàm nhân đi vào cuộc sống của Thiên Chúa. Do đó phải vượt qua sự thiếu hiểu biết của xác phàm để có thể mở rộng lòng ra đón nhận điều Chúa muốn cho, chứ không khư khư đòi điều ta muốn có. Chúa muốn ban Thánh Thể, ta lại đòi bánh ăn.
Bài đọc 1 trích từ Sách Châm Ngôn thuật lại một câu chuyện mang tính huấn dụ, gồm 2 phần, kêu gọi phàm nhân, đến tham dự bàn tiệc của ĐỨC KHÔN NGOAN. Ở đây ĐỨC KHÔN NGOAN được nhân cách hóa thành một Ngôi Vị:
Phần 1: ĐỨC KHÔN NGOAN xây nhà mới có tới BẢY CỘT, cách nói ám chỉ đây là ngôi nhà lớn như một cung điện của vua. Mừng tân gia, ĐỨC KHÔN NGOAN soạn tiệc lớn, rượu thịt do chính mình chế biến, khoản đãi miễn phí, mở rộng ra cho tất cả mọi người: ĐỨC KHÔN NGOAN hối thúc các tôi tớ đi mời và đích thân đến các nơi cao, nơi cư dân thường tụ họp để mời khách, hãy rời bỏ các thú vui ở “các nơi cao” đến nhà mới của mình dự tiệc tân gia.
Phần thứ 2 là nội dung của lời mời. ĐỨC KHÔN NGOAN mời những kẻ ngây thơ, ngu si, thiếu hiểu biết hãy từ bỏ con đường khờ dại đang theo, đến dự tiệc khôn ngoan để được sống “hãy đến mà ĂN… và UỐNG… đừng ngây thơ khờ dại nữa và các con sẽ được sống” (cc 5-6). Hãy đến dự tiệc của ĐỨC KHÔN NGOAN.
Với mặc khải Tân Ước, và phối hợp với bài Tin Mừng, ĐỨC KHÔN NGOAN chính là hình ảnh báo trước Đức Giêsu; Thực đơn do ĐỨC KHÔN NGOAN pha chế chính là lời giáo huấn của Thiên Chúa, báo trước Tiệc Mình Máu Đức Giêsu, ai ăn uống sẽ được sống (x.Is 55,1-3; Ga 6,54).
Tin Mừng hôm nay là phần cuối của loạt mặc khải tiệm tiến được Đức Giêsu khai triển trong bài diễn từ nói về BÁNH TỪ TRỜI, bánh hằng sống trong Ga 6. Bánh đó không phải là bánh mì do phép lạ làm ra, cũng không phải là Manna, mà là Thánh Thể: là THỊT và MÁU của Đức Giêsu tự nguyện hiến tế, ban tặng cho kẻ tin.
Trong phụng vụ năm B, loạt mặc khải này được trình bày từng bước một trong 3 Chúa Nhật XVIII, XIX và XX B. Thật vậy, Chúa Nhật XVIII B, Đức Giêsu mặc khải cách chung chung rằng “Bánh từ trời” đích thực không phải là Manna, mà là chính bản thân Người (6,34-35); Đến XIX B, Đức Giêsu nói rõ hơn: Bánh hằng sống mà Người ban cho chính là THỊT của Người, nuôi sống TẤT CẢ thế gian(6,51).
Mặc khải huỵch toẹt, thẳng thừng trên đã gây xốc cho người Do Thái: “làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (6,52). Không một lời giải thích, Đức Giêsu lại còn gây xốc lớn hơn khi thêm phải “uống Máu Người”: “ai ăn thịt và UỐNG MÁU tôi thì được sống muôn đời…” (6,54-56); Vì Luật cấm ăn MÁU (St 9,4; Lv 17,10).
Tuy nhiên người Do Thái quên chi tiết này: Máu được Chúa ban đổ trên bàn thờ làm hy lễ thì tha được tội (Lv 17,11). Vậy điều Đức Giêsu mặc khải là việc Người SẼ làm trong bữa Tiệc Ly và trên Thập giá. Máu Thịt Đức Giêsu ban là bí tích Thánh Thể; Bởi vì máu thịt mục nát chẳng nuôi sống được ai, chính Máu Thịt PHỤC SINH của Đức Giêsu mới là THẦN LƯƠNG.
Hãy bỏ đi cái nhìn trần tục và đón nhận Máu Thịt phục sinh của Đức Giêsu để được nên một với Người, thông phần thiên tính. Đó mới chính là sự sống đời đời.
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XX B THƯỜNG NIÊN
Thịt tôi là của ăn thật, và máu tôi là của uống thật. Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy (Ga 6,55-56).
Trích đoạn Tin Mừng hôm nay là phần cuối của bài diễn từ về chủ đề lương thực: bánh từ trời, bánh hằng sống của Đức Giêsu.
Ga 6 mở đầu bằng một phép lạ xảy ra trong một vùng hoang vắng: phép lạ nhân bánh. Chỉ với năm cái bánh và hai con cá nhỏ, Đức Giêsu đã hóa nhiều để nuôi thể xác hơn năm ngàn người trong một lần ăn. Với dấu lạ đó, Đức Giêsu bắt đầu hé mở dung mạo thiên sai của Người cho đám đông, họ nhận ra “ông này thật là Vị Ngôn Sứ, là Đấng phải đến thế gian” (6,14). Thế nhưng tầm nhìn của họ bị che chắn bởi quyền lợi cá nhân vật chất, bởi mộng bá quyền dân tộc: họ muốn tôn Người làm một ông vua trần thế để Israel hồi phục quyền lực thời Đavit, đè đầu đè cổ chư dân (so với Cv 1,6). Biết ý đồ sai lạc của họ, Đức Giêsu trốn đi.
Không tha! Họ truy đuổi Người với những tham vọng sai trái vẫn ấp ủ trong lòng. Đức Giêsu giảng dạy cho họ, cố gắng giải cứu họ.
Bài diễn từ Đức Giêsu nói với họ tại hội đường Capharnaum là một lời mời gọi suy tư rồi hoán cải. Người dùng “bánh mì của một bữa ăn vật chất để dẫn họ tới “bánh trường sinh” từ trời xuống ban sự sống vĩnh cửu. Bài diễn từ được cấu trúc thành như một bậc tam cấp (được phụng vụ sử dụng chia làm ba bài đọc trong ba Chúa Nhật XVIII B, XIX B, XX B), đưa khán thính giả bước từ:
1. “bánh mì vật chất”, chỉ nuôi sống được thể xác chỉ trong một bữa ăn,
2. đến “của ăn thần linh” từ trời xuống, ban sự sống đời đời,
3. Bánh đó chính là THỊT của Người (6,51): “Ai ăn Thịt tôi và uống Máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (6,56).
Như vậy, vấn đề không phải là bánh ăn giải quyết nhu cầu sinh tồn thể xác mà là nối kết trở lại mối tương giao mật thiết giữa Thiên Chúa và con người. Đức Giêsu đã khám phá ra từ trong cuộc sống của nhân loại, một phương thế hữu hình rất ấn tượng và kiến hiệu là “CÁI ĂN” để dọn đường chuẩn bị đưa nhân loại về lại với mối hiệp thông mật thiết nên một với Người (x.Ga 6,56). Mối hiệp thông này đã được Thiên Chúa đặt để bên trong con người khi sáng tạo con người theo hình ảnh Chúa. Sa ngã, tội lỗi đã làm hình ảnh đó mờ nhòe đi, mầm sống đó bị héo úa vì ân sủng Chúa không thâm nhập vào được bên trong sâu thẳm của con người. Nay, với sáng kiến của Đức Giêsu: con người buộc phải ăn, đưa bánh xâm nhập vào người nên thịt máu của mình để sống, thì Đức Giêsu đã tận dụng phương thế “bánh ăn” đó, biến “bánh ăn” đó thành Mình Máu Chúa, thâm nhập vào trong tận nơi sâu thẳm của con người làm thành máu thịt của TỪNG người, cung cấp dưỡng chất thần linh, khôi phục lại và làm lớn kên mầm sống “hình ảnh Thiên Chúa” trong thâm sâu con người.
Như vậy sự sống đời đời mà Đức Giêsu muốn ban tặng cho chúng ta không phải là một yếu tố ngoại lai bổ sung đến từ bên ngoài mà là một tương quan nội tại “Ở LẠI TRONG” giữa Đức Giêsu và những ai ăn thịt và uống máu Người. Tiến trình đi từ “bánh mì” đến tương quan “ở lại trong” đó trong Ga 6,24-58 được phụng vụ trình bày theo một bậc tam cấp cụ thể như sau:
*Tam cấp bậc 1: Chúa Nhật XVIII B, Ga 6,24-35: Đức Giêsu mời gọi họ hãy TIN VÀO NGƯỜI là Đấng Cha đã sai đến (6,29). Tiếc thay, đám đông không tin, họ đòi dấu lạ: họ thách thức Đức Giêsu (giống như cha ông họ đã muốn thử xem “có Yavê ở giữa chúng ta hay không”: x.Xh 17,7b), có làm được dấu lạ như Manna xưa hay không? Và người Do Thái hãnh diện vì Manna là bánh bởi trời (6,31b). Đức Giêsu mặc khải: bánh bởi trời thứ thiệt là do Cha Người trao ban, bánh đem lại sự sống (6,32-33). Và mặc khải chóp đỉnh của tam cấp 1 là: Đức Giêsu chính là bánh trường sinh, bánh bởi trời. (Ga 6,35). Mặc khải này là một khai mở dẫn vào câu hỏi mới: bậc 2 tam cấp.
*Tam cấp bậc 2: Chúa Nhật XIX B, Ga 6,41-51. Chủ đề xoay quanh cội nguồn của Đức Giêsu: rõ ràng trước mắt người Do Thái, Đức Giêsu là con ông thợ mộc Giuse… tại sao Người lại nói Người từ trời xuống. Lời đáp của Đức Giêsu đưa họ lên cao hơn vào huyền nhiệm của Đức Giêsu trong tương quan với chủ đề “bánh”, tuy nhiên lời đáp trả đó gây “xốc” cho họ: bánh từ trời mà Đức Giêsu ban tặng đó, chính là THỊT của Người, và người ta phải ăn Người để có được sự sống muôn đời (6,51).
*Tam cấp bậc 3: Chúa Nhật XX B, Ga 6,51-58, trước một mặc khải gây xốc như thế, người Do Thái phản ứng mạnh. Và phản ứng đó của họ lại là một cái lấy đà mới đưa họ đi sâu hơn nữa vào huyền nhiệm của Người. Lời đáp của Đức Giêsu (6,53-58) là chủ đề của bài Tin Mừng Chúa Nhật XX B.
BÀI ĐỌC 1: Cn 9,1-6
Chủ đề của Chúa Nhật XX B là:
Thiên Chúa tặng ban lương thực thần linh và kêu mời con người hãy tin vào Chúa và đến hưởng dùng. Lương thực đó là hồng ân nhưng không của Thiên Chúa phát xuất từ lòng thương xót của Người trước tình cảnh dân không có gì để ăn (Ga 6,5), chứ không vì công đức hay quyền lợi nào của họ. Do đó Thiên Chúa mời con người tin tưởng, phó thác để đón nhận với lòng tri ân hầu lương thực thần linh Chúa ban trở thành sự sống vĩnh cửu nơi kẻ tin.
Bài đọc 1 là một trích đoạn từ Sách Châm Ngôn. Sách này là một tuyển tập những lời hay ý đẹp của các “túi khôn nhân loại”; nhưng được đọc dưới ánh sánh của đức tin độc thần Do Thái giáo. Trích đoạn hôm nay nói về việc “Đức Khôn Ngoan” (là điều mà nhân loại mọi thời luôn khổ công tìm kiếm) chuẩn bị và thiết đãi một bữa tiệc thịnh soạn cho mọi người ( Cn 9,1-12). Điều kiện để được hưởng dùng bữa tiệc là đơn sơ đáp lại lời mời của Đức Khôn Ngoan “hãy đến mà ăn bánh của Đức Khôn Ngoan và uống rượu do đích thân Đức Khôn Ngoan pha chế” (Cn 9,5).
Ý tưởng bài đọc 1 trùng khớp sít sao, và dọn đường tuyệt vời cho những gì được Đức Giêsu đề cập đến trong đoạn Tin Mừng hôm nay: chính Đức Giêsu đãi muôn người một bữa tiệc trường sinh, với các món ăn do đích thân Người “pha chế” bằng quyền năng và tình yêu thần linh của một Vị Thiên Chúa: đó chính là THỊT và MÁU của Người. Bữa ăn được mở rộng ra cho mọi người, chỉ cần HOÁN CẢI (6,26-27) đổi đi cái tầm nhìn, mục đích ích kỷ của mình rồi TIN vào Người (6,29.40.47).
TIN MỪNG: Ga 6,51-58
Bài đọc tuần này mở đầu bằng lấy lại câu cuối của bài đọc tuần trước Ga 6,51. Đó là một câu ngắn ngủi nhưng bao gồm nhiều yếu tố mặc khải lớn lao đưa chúng ta đi sâu vào huyền nhiệm Giêsu chứa đựng trong Ga 6:
* “Ta là”: xin xem bài Suy Niệm Mùa Phục Sinh V B.
Đức Giêsu áp dụng cho bản thân Người danh xưng “êgô eimi” thần linh mà Thiên Chúa dùng tỏ mình cho Môsê và dân Chúa. Đó là cái tên mà dân Chúa phải dùng để thờ phượng Chúa nói lên tính độc thần tuyệt đối của đạo Yavê (Xh 3,15).
Trong thực tế, Thiên Chúa là vô hình! Còn con người thì phải cần đến những gì hữu hình để có thể tiếp cận, thiết lập tương giao được. Biết thế Yavê Thiên Chúa đã dùng những yếu tố trong công trình sáng tạo của Người để làm cầu nối liên hệ với con người: Danh Thánh, Hòm Bia, Bánh, Rượu, Chủ chiên… Nhưng những hình ảnh đó phải do chính Chúa chọn; Bằng không thì các hình ảnh do con người tạo ra lại là “ngẫu tượng”.
Giờ đây, Đức Giêsu áp dụng danh xưng “Ta là” cho mình, hàm ý Người hé lộ cho những ai đang nghe Người căn tính thần linh của Người. Và căn tính ấy được Người bày tỏ hữu hình qua các yếu tố vật chất: bánh, sự sống, Đấng xuống từ trời. Câu 6,51 dịch theo sát tiếng Hy lạp sẽ là:
|
Dịch: |
“Tôi là “Tôi là |
bánh, bánh, |
(là) sự sống mãi, hằng sống |
(là) Đấng xuống từ Trời” từ trời xuống” |
Cách nói “Ta là” lúc bàn về sự sống, ánh sáng… gợi lên trong não trạng của các thính giả của Đức Giêsu một ý niệm về tuyệt đối. Duy Thiên Chúa mới có quyền bảo “Ta là”… Thế mà Đức Giêsu đã làm như vậy. Một xác quyết như thế sẽ gây nên hoặc là công phẫn, hoặc là đức tin (chú giải Phúc Âm Chúa Nhật Mùa Thường Niên B trang 383-384).
* Phản ứng của người Do Thái (6,52):
Cho đến câu Ga 6,51a, cuộc tranh cãi giữa Đức Giêsu và người Do Thái chưa đến nỗi gì căng thẳng lắm. Trước các lời xác quyết của Người rằng Người là bánh từ trời xuống, hay là bánh sự sống thì họ cho Người là phóng đại, khoa trương quá đáng, vì dù sao Người cũng làm được nhiều phép lạ và trước mắt là vừa nhân bánh nuôi năm ngàn người. Thế nhưng Đức Giêsu không dừng lại ở sự kiện phép lạ đó: Người muốn nâng họ lên bình diện đức tin! Tin vào Người như xưa kia Môsê, qua phép lạ Manna, đã nâng tầm đức tin dân Do Thái: “con người sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Yavê phán ra” (x.Xh 8,3b).
Bánh mà Người SẼ ban tặng chính là THỊT của Người (6,51b)
Điều này gây xốc cho người Do Thái. Họ phản ứng ngay (6,52). Không lùi bước, Đức Giêsu còn đẩy cơn xốc lên cực điểm khi Người tăng thêm cường độ mặc khải “phải ăn thịt và uống máu Người, vì thịt Người là của ăn thật và máu Người là của uống thật” (6,53-55). Thật là một đòi hỏi ngạo ngược, phi pháp, vi phạm giao ước Do Thái giáo: cấm giết người, cấm đụng tới máu (x.St 9,4.6) nói chi là ăn thịt uống máu con người (Lv 17,10-14).
Đứng trước cú xốc và sự vi phạm Luật quá nặng này, dường như đám Do Thái này không còn muốn đối thoại với Đức Giêsu nữa: Ga 6,52a ghi rõ “người Do Thái tranh cãi sôi nổi VỚI NHAU”. Họ cho Đức Giêsu ra rìa. Không biết họ có coi Người là mất trí hay không (Mc 3,21)?
* Mặc khải chung cuộc của Đức Giêsu (6,53-58): là những lời ĐỘC THOẠI của Đức Giêsu. Không bận tâm đến thái độ “loại trừ” của họ, Đức Giêsu tiếp tục mặc khải cho họ. Đức Giêsu đẩy mặc khải tới cùng và đặt những người Do Thái phải làm một CHỌN LỰA. Ở đây không còn lý luận và tranh cãi nữa.
Qua cách nói “Ta là” kèm theo sau là những lệnh truyền, đòi hỏi quyết liệt, không cho phản hồi tranh luận, Tin Mừng Gioan cho tới lúc này đã làm lộ rõ dần dung mạo thần linh của Đức Giêsu; Và đứng trước ý định của Thiên Chúa như thế, con người không có con đường thứ ba để chọn lựa: hoặc sẽ bỏ đi (6,60.66) hoặc sẽ tin vào Đức Giêsu, Đấng có “lời ban sự sống đời đời” (6, 68).
Và một điểm đáng chú ý ở chương sáu này là sự chọn lựa không phải là công việc riêng tư của một cá nhân riêng rẽ mà là của cả một cộng đoàn, một khối người đã từng ăn no nê trong phép lạ trước đó. Vậy những lời dạy dỗ, phép lạ đây là cho một dân, một toàn thể mọi thời.
* Ga 6 nói về bí tích Thánh Thể?
Trong Ga 6,51b, Đức Giêsu hứa “bánh tôi SẼ ban, chính là Thịt tôi”. Việc ban thịt, Đức Giêsu không thực hiện lúc Người đang đối thoại với họ, mà là một việc trong tương lai.
Còn trong Ga 6,52, người Do Thái lại hiểu “làm sao ông này CÓ THỂ CHO… = “dunatai (thì hiện tại) + dounai (inf. a2.actif) hàm ý là việc mổ xẻ chia thịt Đức Giêsu phải làm ngay tức khắc và chỉ làm một lần là xong. Đó là điều Đức Giêsu không hề mặc khải.
Như vậy việc Đức Giêsu hứa “SẼ BAN” nhắm vào biến cố nào trong tương lai của cuộc đời Đức Giêsu? Lệnh truyền “ăn thịt, uống máu” gợi lại hình ảnh cụ thể con chiên bị đem đi sát tế trong Lễ Vượt Qua Do Thái. Thịt chiên được phân chia ra cho toàn dân cùng ăn để có sức lên đường vượt qua; Và máu của con chiên thực sự là yếu tố mang lại sự sống, tồn vong của cả dân tộc: máu chiên được đem bôi lên ngưỡng cửa của nhà người Do Thái để làm dấu, Thiên Chúa sẽ vượt qua tha chết cho con đầu lòng (x.Xh 12,5-14.22).
Hình ảnh trên gợi lại hiến tế thứ sáu tuần thánh hơn là Tiệc Ly (x.Ga 19,14.16 nốt “l”). Nhất là Tin Mừng Gioan không nói tới việc bí tích Thánh Thể và đối với Tin Mừng thứ tư thì Thập Giá là cội nguồn cứu độ là sự sống (x.Ga 12,22) và lúc đó thiên hạ sẽ nhận ra Người hằng hữu là Đấng “Ta là” (x.Ga 8,28).
Tuy nhiên ngôn từ trong Ga 6,53-58 đúng là diễn tả ý nghĩa của bí tích Thánh Thể (x.CGKPV “Kinh Thánh Tân Ước” bản dịch có hiệu đính, 2008 trang 395 nốt “e” và “g”). Vậy Nhất Lãm đề cập tới Thánh Thể dưới góc cạnh pháp lý, thể chế, những nghi thức phải làm để “tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19-20)’ Còn Gioan nhấn tới ý nghĩa tương quan nội tại, sự kết hợp nên một: Thầy trò “ở lại trong” nhau của Thánh Thể (x.Ga 6,56-57).
MÙA THƯỜNG NIÊN 20B
Cn 9, 1-6
Ga 6,51-58
TÌM HIỂU 2 BÀI ĐỌC
Chủ điểm phụng vụ:
Phụng vụ Lời Chúa tiếp tục mời tín hữu tiến sâu hơn vào mầu nhiệm LƯƠNG THỰC, BÁNH trong tương quan với đời sống của con người. Một số yếu tố mặc khải đã được suy niệm trong các Chúa Nhật trước được nhắc lại: bánh từ trời, bánh trường sinh, bánh mang lại sự sống đời đời, bánh đó là chính Đức Giêsu, là THỊT của Người (x.Ga 6, 51.58). Phần Thiên Chúa, Người đã quảng đại ban bánh thần thiêng. Nhưng phía con người để hưởng dùng được sự sống từ bánh ấy thì cần phải tin. Chúng ta đã thấy 2 đáp trả và 2 kết quả trong Chúa Nhật 18B và 19B: Dân Do Thái đã ăn bánh từ trời mưa xuống (Manna) nhưng vì không tin, làm loạn chống lại Môsê và Thiên Chúa nên tất cả đều đã phải chết. Còn Elia đã tin nhận bánh do thiên sứ mang đến nên đã đủ sinh lực đi đến Núi Chúa, được hồi sinh và trở về hoàn tất sứ mạng.
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay 20B, đưa chúng ta lên đỉnh cao của mặc khải về LƯƠNG THỰC THẦN THIÊNG và hoa trái đích thực mà những ai hưởng dùng lương thực ấy sẽ được thụ hưởng. Chủ điểm của mặc khải hôm nay nổi bật trong những yếu tố mới mẻ này của lương thực thần linh:
- Lương thực được ban không chỉ là bánh và nước lã nhưng là “Thịt”, “rượu” (Cn 9,2), "bánh và rượu " (9,5). Thịt và Máu" (Ga 6,53-56).
- Lương thực này hoàn toàn là quà tặng miễn phí do người thiết đãi tự nguyện quảng đại rộng ban, do chính tay mình pha chế các món ăn và thiết tha mời gọi tất cả mọi người đến hưởng dùng, chứ không vì người được mới nài xin, van vỉ.
- Lương thực này không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất, trong một giai đoạn nhất thời trước mắt, mà làm cho người hưởng dùng được đổi mới tận căn; làm biến đổi kẻ ngu si khờ dại nên hiểu biết và sẽ được sống (bài đọc 1). Còn ai hưởng dùng THỊT MÁU Đức Giêsu trong niềm tin SẼ được sống lại trong ngày sau hết, và dấu chỉ bảo đảm trong hiện tại là “Ở LẠI TRONG” Đức Giêsu và Đức Giêsu “Ở LẠI TRONG” người ấy.
Bài đọc 1 trích từ Sách Châm Ngôn thuật lại việc Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa có sáng kiến đãi một bữa tiệc mừng tân gia với thịt, rượu, bánh do chính tay mình đích thân pha chế, rồi sai tôi tớ ra đi mời khách; Riêng phần mình, Đức Khôn Ngoan lên các nơi cao (để dễ được thấy và tiếng gọi được vang xa) trong thành phố để kêu gọi. Đối tượng là mọi người; Nhưng đặc biệt nhắm vào hạng ngây thơ, khờ khạo là những người trước giờ không biết cách sống, thiếu hiểu biết, cư xử ngô nghê...hãy đến mà ăn để từ đây biết cách sống và bước đi trên đường hiểu biết.
Trong bài đọc Tin Mừng, Đức Giêsu là người chủ đứng ra đãi bữa ăn. Thực đơn do chính Người tự nguyện hiến tặng và đã chuẩn bị từ lâu. Đó là THỊT và MÁU của Người. Phần trung tâm của bài đọc Tin Mừng (cc. 53.54.55.56) mỗi câu đều lặp lại ý phải ăn thịt và uống máu của Người. Đối tượng được mời mở rộng ra cho mọi người “AI”! (cc. 54.56). Hoa trái của việc ăn thịt, uống máu Đức Giêsu là sự sống đời đời: ân huệ này sẽ hoàn tất vào ngày cánh chung “Tôi SẼ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (c.54); Còn trong hiện tại thì sự sống đời đời chính là nhờ LỜI CHÚA, MÌNH và MÁU ĐỨC GIÊSU, từ nay Thiên Chúa vĩnh viễn ở giữa nhân loại ngay trong từng phút giây hiện tại, giữa đất lưu đày này và đối với từng cá nhân, việc tin yêu đón nhận LỜI, MÌNH, MÁU Đức Giêsu sẽ làm cho xác thân người tín hữu thành Đến Thờ của Thiên Chúa, Đền Thờ của Chúa Thánh Thần (1 Cr 3, 16; 6,9) thành nơi Thiên Chúa ngự giữa loài người.
BÀI ĐỌC I: Cn 9, 1-6
Văn mạch:
Sách Châm Ngôn là một bộ sưu tập gồm 9 tuyển tập gom lại với nhau những lời lẽ khôn ngoan của các hiền nhân Israel lẫn của dân ngoại. Cấu trúc chi tiết của Sách có thể tham khảo CGKPV “các Sách Giáo Huấn” ấn bản 1997. Bố cục, trang 374. Trong Cựu Ước, hiền nhân là những người trí tuệ, khôn ngoan, có khi đóng vai trò lãnh đạo cộng đoàn nữa. Những gì họ nói ra không phải là những sấm ngôn được Thiên Chúa trực tiếp mặc khải cho như trường hợp các ngôn sứ. Đó là hoa trái nhờ việc nghiền ngẫm nhiều về kho tàng văn hóa dân tộc, về các túi khôn của nhân loại, đồng thời nhờ kinh nghiệm sống hằng ngày mà các vị ấy rút tỉa được những kết luận thực tế tạo nên những kho tàng khôn ngoan cho đồng loại. Riêng với Israel, kho tàng ấy được đặt nền tảng trên LÒNG KINH SỢ Thiên Chúa: "Kính sợ Yavê là bước đầu của khôn ngoan; biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật" (Cn 9,10). Mọi sự khôn ngoan đều là do Yavê ban tặng; Tri thức, hiểu biết có được là nhờ Người (Cn 2,6). Bởi vậy sự khôn ngoan dù được biểu lộ dưới hình thức tự nhiên nào đi nữa thì Israel vẫn coi đó là 1 ơn ban của Thiên Chúa. Do đó những lời khôn ngoan cũng là mạc khải của Thiên Chúa.
Bài đọc 1 là trích đoạn từ chương 9 của tuyển tập nhỏ thứ nhất (Cn 1,8-9,18). Chương 9 này mô tả chủ yếu 2 bữa tiệc: một do "Đức Khôn Ngoan" và một do "Mụ Khờ Dại "khoản đãi. Cả hai đều từ các nơi cao trong thành mà kêu gọi những kẻ ngây thơ khờ dại đến dự. Kết quả của 2 bữa tiệc thật khác nhau, một đưa đến sự sống, một đến đến cái chết" (CGPPV Sđd trang 401 nốt "h").
Phần phụng vụ trích đọc là Cn 9,1-6 : Đức Khôn Ngoan mở tiệc mừng tân giả. Đức Khôn Ngoan được nhân cách hóa thành 1 nữ chủ nhân đảm đang, nhân hậu và quảng đại : Bà đã xây nhà, mở tiệc mời mọi nguời đến dự để được giải thoát khỏi sự ngu si, khờ khạo, hưởng được sự khôn ngoan và sự sống.
CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH
1. Đức Khôn Ngoan chuẩn bị mừng tân gia (Cn 9, 1-2)
* Đã xây cất nhà mình (c. 1a)
dựng lên 7 cây cột (c.1b)
* hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn (c. 2)
Cn 9.1 : Đức Khôn Ngoan được trình bày như một "bà” muốn mời 1 bữa tiệc. Lý do là vì bà vừa xây xong cho mình 1 ngôi nhà lộng lẫy, với hành lang bao quanh rộng lớn được trang hoàng bởi 7 cột lớn. Đó có thể là ngôi đền thờ, hoặc cung điện, hoặc là một nơi ở sang trọng rộng lớn.
Con số “7”: mang ý nghĩa biểu tượng nói lên sự rộng lớn huy hoàng của tòa nhà do Đức Khôn Ngoan vừa xây cất xong.
Tòa nhà với 7 cây cột hoành tráng mà Đức Khôn Ngoan đang mừng là Tân Gia ám chỉ điều gì?
Sống giữa một thế giới đa dạng về văn hóa, tôn giáo, tư tưởng, lối sống… dân Chúa (cũng như tín hữu hôm nay) hưởng được nhiều phúc lợi nhưng cũng bị lôi cuốn ngược lại chạy theo những sai lạc, quan điểm của sự khôn ngoan thế tục. Đã đến lúc cần sưu tập lại, lọc lựa, hiệu đính lại theo chuẩn mực đức tin là lòng kính sợ Thiên Chúa. Và kết quả là Sách Châm Ngôn ra đời.
Vậy NGÔI NHÀ mà Đức Khôn Ngoan xây cất cho mình và mời gọi mọi người đến ăn mừng tân gia chính là SÁCH CHÂM NGÔN.
Còn con số “7” là nội dung chứa đựng trong sách đó:
- Cn 1-9 là phần dẫn nhập của sách gồm 7 lời huấn dụ của các bậc cha thầy truyền lại cho con cái: “Này con…” (1,8; 2,1; 3,1; 3,21; 4,1; 4,10; 5,1).
- Cn 10,1- 31,9 là nội dung chính của sách gồm 7 bộ sưu tập:
1. Bộ sưu tập thứ nhất các châm ngôn của vua Salomon (10,1-22,16)
2. Bộ sưu tập những lời của các nhà khôn ngoan (22,17- 24,22)
3. Bộ sưu tập những lời khác của các nhà khôn ngoan (24, 23-34)
4. Bộ sưu tập thứ hai của các châm ngôn của vua Salomon (25,1-29,27)
5. Những lời của Agua nhà khôn ngoan dân ngoại (30,1-14)
6. Những châm ngôn có số (30, 13-33)
7. Những lời của Lơ-mu-ên nhà khôn ngoan dân ngoại (3,1-9)
- Cn 31,10-31 bài thơ về người vợ đảm đang gồm 22 câu được đánh số thứ tự các câu bằng 22 chữ cái của bản mẫu tự Hipri. Điểm nổi bật, gương mẫu của nàng được đề cập ở đây là SỰ KHÔN NGOAN và ĐẢM ĐANG (CGKPV Sđd trang 374).
2. Đức Khôn Ngoan mời mọi người tham dự (Cn 9, 3- 5)
* Sai các nữ tỳ đi (mời người đến dự) (c. 3a)
Rồi đích thân Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao… mời gọi (c. 3b)
* Đối tượng được mời và nội dung lời mời
- Hỡi ai ngây thơ: “Hãy lại đây” (c.4a)
- Hỡi kẻ ngu si, đến mà ăn bánh rượu Đức Khôn Ngoan pha chế (c. 4b-5)
Hai đợt mời thực khách: Đợt đầu sai các nữ tỳ đi, đợt 2 đích thân Đức Khôn Ngoan đến những nơi cao để lớn tiếng gọi mời. Đây là hình ảnh báo trước đường lối hành động của Thiên Chúa để thông ban ơn cứu độ, sự khôn ngoan thần linh của Người cho nhân loại mà sau này tác giả thư Hipri cảm nhận và viết ra “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào giờ sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1, 1-2).
Trong Cựu Ước, tức đợt mời 1, Thiên Chúa mặc khải qua các ngôn sứ, hiền nhân, kỷ lục; Còn trong Tân Ước, chính Đức Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa (x. 1Cr 1, 24b) đích thân mặc khải (x.TOB – AT p 1534 Note “p”).
Các nơi cao: Theo người Sêmit, nơi cao là chốn cư ngụ rất được ưa thích của các thần linh và họ thường xây ở đó những bàn thờ tế lễ cho thần của họ.
Khi người Do Thái vào chiếm đất hứa, dần dần chịu ảnh hưởng của người Sêmít, nên cũng có những đền thờ, nơi tế tự ở các nơi cao. Và như vậy là “các nơi cao” đã thâm nhập vào dòng lịch sử Israel: họ cũng bắt đầu có đền thờ ở các nơi cao (x. 2Sm 5, 3; 1V 3, 4…). Và toàn bộ cuộc sống của Israel về chính trị, xã hội tôn giáo đều xoay quanh những trung tâm quy tụ đó. Ở đó người ta dâng lễ, thờ phượng Yavê thỉnh ý các nhà thị kiến, phân xử các sự cố trong cuộc sống (x. Lexique biblique. “Hauts – Lieux”).
Tóm lại đó là những trung tâm quy tụ, đông người đủ mọi hạng đến để giao dịch, sinh hoạt rất thuận tiện cho việc quảng bá, loan truyền các thông tin cần thiết đến cho mọi người. Như vậy việc “Đức Khôn Ngoan lên các nơi cao trong thành phố và kêu gọi” hàm ý rằng sứ điệp được công bố mang tính phổ quát, bữa tiệc được mở ra cho tất cả mọi người không trừ ai. Tuy nhiên có hai hạng người được nêu đích danh:
“Người ngây thơ" (CGKPV): người ngây ngô (Cha Thuấn) = Simple = người đơn sơ (TOB + BJ). Tôi thích cách dịch của Cha Thuấn.
“ngây ngô” là tính cách của một con người đã trưởng thành nhưng cách ứng xử, suy nghĩ, chọn lựa, quyết đoán của người ấy như là của đứa con nít, chỉ làm mọi sự theo cảm tính nhất thời thất thường của mình mà chẳng quan tâm gì tới hậu quả, được mất.
Trong văn học bình dân Việt Nam chuyện " Thằng Bờm có cái quạt mo…” là một minh hoạ rất hay cho tính “ngây ngô”: đối với một đứa con nít đang đói thì cả một gia tài đồ sộ (3 bò 9 trậu, bè gỗ lớn...) mà người lớn nào cũng mơ ước… thì không đáng giá bằng “một nắm xôi”. Đối với một đứa con nít thì thái độ đó là "đơn sơ (TOB) là " ngây thơ” là dễ thương đáng yêu. Nhưng đối với một người đã trưởng thành vượt qua nhiều trải nghiệm thì đó là ngu ngốc, dại khờ, ngây ngô thiếu khôn ngoan.
Để hiểu rõ hơn, ta đọc Mt 22, 3-6. “Người ngây ngô" là kẻ đã coi các lợi tức nhất thời, trước mắt quan trọng hơn là được giao kết thâm tình với Vua: từ chối dự tiệc cưới Hoàng Tử do đích thân Vua đã mời trước từ lâu và hiện tại còn sai tôi tớ đến nhắc nhở chỉ vì những lý do đột xuất, nhất thời. Chọn cái biến cố cá nhân, nhất thời, đột xuất của mình hơn là dự tính từ lâu của Vua.
Người ngu si: so với người phú hộ trong Lc 12, 13-21, là kẻ đặt tất cả vận mạng, tương lai, kể cả cuộc sống mai sau, sau khi chết của mình, hạnh phúc vĩnh cửu của mình trên những giá trị trần thế đầy giới hạn mà mình tích góp được mà quên mất cái chết đang rình chờ hủy diệt tất cả.
Lương thực do Đức Khôn Ngoan thiết đãi: “thịt và rượu” (c.2); “bánh và rượu” (c.5). tất cả đều do Đức Khôn Ngoan chế biến nên. Chi tiết này là điểm nối kết chính yếu với bài đọc Tin Mừng: Trong tiệc Thánh Thể, Đức Giêsu đãi mọi người Máu, Thịt, Bánh là chính Người, do Người tự nguyện hiến tặng vì ơn cứu độ cho toàn nhân loại.
Trong Cn 9,5, lương thực là BÁNH và RƯỢU nhưng không là bất kỳ thứ bánh rượu nào mà phải là DO ĐỨC KHÔN NGOAN TINH CHẾ. Chính lương thực đó mới đem lại sự sống và sự hiểu biết cho thực khách (c. 6: sẽ nói sau).
Trong Thánh Thể, hình thức bên ngoài Đức Giêsu sử dụng vẫn là bánh rượu, nhưng do bí tích Đức Giêsu truyền qua lời truyền phép thì “BÁNH” trở thành “MÌNH” và “RƯỢU” trở nên “MÁU” Đức Giêsu. Nên khi rước lễ, giác quan tiếp xúc với bánh, nhưng lúc đó tín hữu đang đón nhận Đức Giêsu, đang “ăn thịt và uống máu Người”.
3. Đức Khôn ngoan mời chọn lựa (Cn 9,6):
- A: mời từ bỏ: đừng ngây thơ khờ dại nữa (c.6a)
- B: hoa trái: sẽ được sống (c.6b)
- A’: mời chọn lựa: hãy bước đi trên con đường hiểu biết (c.6c)
Lời cuối cùng: mọi sự đã được Đức Khôn Ngoan chuẩn bị đầy đủ. Giờ đây Đức Khôn Ngoan chờ đợi sự đáp trả tự do từ phía con người. Đơn giản thôi: bỏ con đường ngây ngô, ngu si, khờ khạo để đi vào con đường mới, con đường hiểu biết, không phải do tự con người vạch ra, do chính Đức Khôn Ngoan ban tặng. Hoa trái là SỰ SỐNG, sự sống của Đức khôn ngoan.
TÓM KẾT
Trong bài đọc 1 này, nhân đức Khôn Ngoan được nhân cách hoá thành một ngôi vị. Ngôi Vị đó có được một năng quyền như là của Thiên Chúa: một năng lực có thể hoán cải được những kẻ ngây ngô, ngu si, dại khờ, biến họ thành những con người hiểu biết và nhất là được thông hiệp sự sống với Đức Khôn Ngoan. Phương thức mà Đức Khôn Ngoan dùng để thực hiện sự biến đổi kỳ diệu đó chính là mời mọi người tham dự vào bàn tiệc THỊT, BÁNH, RƯỢU do đích thân Đức Khôn Ngoan pha chế, dọn sẵn, được Đức Khôn Ngoan mời vào dự yến tiệc vương giả trong NGÔI NHÀ MỚI với 7 CỘT lộng lẫy của mình.
Trong Đức Giêsu, sự khôn ngoan đích thực của Thiên Chúa, Toà Nhà Mới đó chính là Giáo Hội, 7 cột là 7 Bí tích; Bữa ăn là bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể do Đức Giêsu thiết đãi.
Tất cả các tín hữu nhờ các bí tích được nên con Chúa, được chính thức mời dự bàn tiệc Lời và Thánh Thể, chính thức bước vào Tòa Nhà Giáo Hội, nên Nhiệm Thể Đức Kitô.
Áp dụng vào đời sống cá nhân của mỗi tín hữu thì TÒA NHÀ GIÁO HỘI mà Đức Giêsu dựng nên trong chúng ta chính là con người chúng ta, là Đền Thờ của Thiên Chúa. Đền Thờ đó được dựng trên 7 cột là 7 bí tích, được củng cố và nuôi dưỡng hằng ngày nhờ bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể do Đức Giêsu luôn mở ra mời gọi mỗi ngày. Và những điều chúng ta phải từ bỏ và phải theo có thể tóm trong kinh “cải tội 7 mối có 7 đức”. Như thế ngay trong thân xác còn phải chết, ngay trong thế giới đầy hiểm nguy, tín hữu vẫn sống tốt như là đoàn con ngoan của Thiên Chúa.
TIN MỪNG: Ga 6, 51-58
Văn mạch: xem Chúa Nhật 18B và 19B
Trích đoạn Tin Mừng hôm nay là phần cuối cùng của bài diễn từ Đức Giêsu nói trong hội đường Capharnaum, sau phép lạ nhân bánh trong hoang địa, về chủ đề BÁNH Trường Sinh. Bằng cách nói long trọng hàm ẩn mặc khải thần linh “TÔI LÀ”, Đức Giêsu đã tỏ hiện Người chính là “Bánh Trường Sinh” (cc: 35.48); Người là “Bánh từ trời xuống” (cc: 41.51). Những mặc khải ấy làm người Do Thái phân vân: họ vẫn còn ý muốn xin Người ban cho họ thứ bánh ấy (c.34); Nhưng rồi sự nghi ngờ đã dẫn xâm chiếm tâm trí họ: họ xầm xì, phản đối (c.41); Và đến cuối bài đọc Tin Mừng tuần trước, Đức Giêsu dứt khoát công bố rằng Bánh Người sẽ ban chính là THỊT của Người (c.51: là câu cuối của bài đọc tuần trước, được phụng vụ lấy lại làm câu đầu cho bài đọc Tin Mừng tuần 20 B này), thì phản ứng của người Do Thái trở nên quyết liệt hơn: thay vì xầm xì, họ đã công khai phản đối lớn tiếng tranh luận sôi nổi với nhau (c. 52). Rồi cuối cùng, họ, kể cả những người đã có chút tin tưởng Đức Giêsu: các môn đệ, cũng đã nghi ngờ và bắt đầu rút lui không theo Người nữa (c.66: sẽ đọc vào tuần sau 21B).
Ý chính của bài đọc hôm nay là trọng tâm và cũng là chóp đỉnh của bài diễn từ về Bánh Trường Sinh: Đức Giêsu mặc khải chung cuộc: “Amen, Amen tôi bảo...phải ĂN THỊT và UỐNG MÁU Người thì mới có được sự sống đời đời”. Và bài đọc Tin Mừng của Chúa Nhật 20B tạm dừng lại ở đây.
CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH
1. Mặc khải cuối cùng về " Bánh" và phản ứng của người Do Thái
Mặc khải chung cuộc ( Ga 6, 51 và 58)
|
- c.51a : Tôi là Bánh Hằng sống từ trời xuống |
![]() |
- c. 58a: Đây là bánh từ trời xuống - c. 58b: bánh xưa tổ tiên đã ăn…và đã chết |
| để cho thế gian được sống | SẼ sống muôn đời |
* Phản ứng của nguời do thái (Ga 6,52):
" làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?
Mặc khải ở cc. 51 và 58 là 1 tổng hợp với điểm nổi bật đối kháng nhau: "không như Bánh tổ tiên các ông ĐÃ ăn (quá khứ, manna) và đã chết (cc.49. 58b); Còn ai ăn bánh tôi SẼ ban (tương lai) sẽ sống vĩnh cửu (cc 51 bc và 58c). Và thứ bánh ban sự sống vĩnh cửu ấy lại là THỊT của Đức Giêsu.
Phản ứng (c.52): câu 51 gây sốc và người do thái phản ứng mạnh vì họ hiểu sai ý nghĩa lời mặc khải của Đức Giêsu. Không sai về mặt nội dung, nhưng sai về THỜI ĐIỂM và CÁCH THỨC thực hiện:
Trong câu 52b nội dung lời tranh luận của người do thái, các động từ được dùng ở thì hiện tại "có thế cho", nghĩa là họ hiểu rằng Đức Giêsu cho họ ăn ngay tức khắc trước mắt (như đã bẻ bánh cho họ ăn ở 6, 1-15) và cái họ được ăn là thân xác phàm nhân cụ thể của con nguời đang đối thoại với họ. Trong khi đó động từ “ban" được Đức Giêsu dùng ở thì tương lai "SẼ ban" . Khi cố ý viết tế nhị như thế, tác giả Tin Mừng thứ tư muốn hướng lời của Đức Giêsu về 1 biến cố tương lai sẽ diễn ra sau này: đó là Tiệc Ly (Nhất Lãm) và hiến tế Thập Giá. Nghĩa là lương thực Người sẽ ban là BÁNH, nhưng bản chất của bánh ấy đã đổi thay nhờ quyền năng thần linh mà Người đã truyền trên bánh: " hãy cầm lấy mà ăn đây là Mình Ta" (Mt 26,26 … ). Vậy THỊT Người ban chính là MÌNH Người được ban tặng trong Thánh Thể trong đó có "Mình, Máu, Linh hồn, Thiên tính của Đức Giêsu" chứ không là 1 miếng thịt tươi cắt ra từ 1 xác chết.
2. Mặc khải Thánh Thể và hoa trái (Ga 6, 53-57)
► Yếu tố mặc khải: “Amen, Amen, Tôi bảo…” (c.53a)
► Mặc khải về Thánh Thể: “ăn thịt và uống máu…”
- dưới dạng nghi nghĩa phủ định: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình (c53b)
- dưới dạng xác định 2 lần
• “ai ăn thịt và uống máu tôi…”(cc.54a và 56a)
• thì được sống muôn đời và tôi SẼ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết (c.54b); thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy (c.56b)
► Vì thịt tôi chính là của ăn, và máu tôi thật là của uống (c.55)
► Hoa trái: mối liên kết mật thiết giữa Cha-Con-kẻ tin (c.57)
Trong phần mặc khải này, các chủ đề liên quan tới “Bánh” hoàn toàn biến mất và được thế lại bằng cụm từ “ăn thịt và uống máu tôi”. Cách trình bày mới này rất gần với bản văn nói về việc lập bí tích Thánh Thể trong trình thuật về buổi liệc ly trong Tin Mừng Nhất Lãm và Phaolo (Mt 26, 26-29; Mc 14, 22-25; Lc 22, 15-20; 1Cr 11, 23-26). Và lời “ăn thịt và uống máu tôi” được lập lại tới 3 lần. Vậy đây chính là điểm nhấn của Tin Mừng hôm nay.
Uống máu: đối với người Do thái, ăn thứ thịt mà còn vương lại chỉ một chút máu trong đó đã là điều cấm huống hồ chi là “uống máu”, vì sự sống của xác thịt nằm ở trong máu (x.Lv 17, 10-14), mà ở đây lại còn là uống máu con người.
Do đó ở đây không thể hiểu cách thô thiển là Đức Giêsu dạy ăn thịt người và uống máu người. Cần tìm hiểu ý nghĩa cách nói “ăn thịt uống máu” trong văn hóa người Sêmit muốn diễn tả điều gì? Giống như trong tiếng Việt bình dân khi giận ai quá mức, người Việt thường nói “ăn tươi nuốt sống” kẻ ấy.
Trong văn hóa Sêmit cách nói cặp đôi “thân xác và máu” là lối nói bình thường để diễn tả một con người toàn diện, giống như người Việt Nam hay dung chỉ một chi thể để diễn tả con người: “chân sút ấy” ám chỉ cả con người một cầu thủ bóng đá; “giọng ca ấy” ám chỉ một ca sĩ….
Vậy khi Đức Giêsu nói “ăn thịt và uống máu Người” không có nghĩa là phải giết chết Người đi rồi tách thịt và máu riêng ra; Tiếp đó là ăn thịt của xác chết rồi uống máu. Qua cách nói đó, Đức Giêsu mời kết hợp mật thiết với Người được diễn tả qua hình ảnh biểu tượng “ở lại trong” (c. 56). Tuy nhiên điều bản văn muốn nói không là một sự kết hiệp nội tâm thiêng liêng mà thôi nhưng là kết hợp cách cụ thể bằng việc “ĂN”.
“ĂN” là hình ảnh cụ thể và ấn tượng nói lên sự kết hiệp nên một giữa “của ăn” và “người ăn”: “của ăn” sẽ được tiêu hóa và nên máu thịt của “người ăn”. Về mặt từ ngữ, bản văn dùng một từ rất cụ thể là “NHAI” = “Trogo”. “Ai nhai” = “hô trogon” (c. 54) = “người nhai” (c. 56) thịt tôi….Vậy làm cách nào để “NHAI” được Đức Giêsu? Đó chính là điều Đức Giêsu sẽ làm trong Bữa Tiệc Ly lúc lập Bí tích Thánh Thể được các Tin mừng Nhất Lãm thuật lại.
Trong bữa ăn Vượt Qua của mình, người Do Thái ăn thịt chiên nướng, bánh không men và uống rượu (xem “Nghi thức bữa tiệc Vượt Qua của Do Thái giáo” trong “Bài tìm hiểu 2 bài đọc” Chúa nhật Mình Máu Chúa B); Trong bài đọc 1, Đức Khôn Ngoan cũng đãi tiệc với thịt, rươu và bánh; Đức Giêsu đã dùng quyền năng thần linh của Người mà Cha trao ban (x. Ga 13, 1-3) để bến đổi “bánh” nên “Mình” Người: “anh em hãy cầm lấy mà ăn, đây là MÌNH THẦY” (Mt 26, 26)…
Vậy lời mời “ăn thịt uống máu” chính là cách trình bày hãy nên một, “ở lại trong” Đức Giêsu qua việc “nhai Thánh Thể”. Rước lễ (Hiệp lễ) là NHAI chính Đức Giêsu phục sinh trong hình bánh chứ không phải là ăn 1 cục thịt của xác chết.
Hoa trái của “ăn thịt và uống máu Đức Giêsu”: “Có sự sống nơi mình” (c. 53) và đó là “sự sống đời đời” và được Đức Giêsu cho sống lại trong ngày sau hết” (c. 54). Thân xác chúng ta vẫn phải chết nhưng nhờ kết hợp với Thánh Thể thì mầm sống thần linh nơi nhân tính phục sinh của Đức Giêsu dần thấm vào ta, nhờ đó cái thân xác phải chết của chúng ta được thấm nhuần yếu tố di truyền thần linh (gene divin) như những mầm sống trong ta chờ ngày sau hết quyền năng Chúa cho nảy mầm thành sự sống đời đời.
Còn trong hiện tại? Hoa trái tuyệt vời nhất là " được ở lại trong” Đức Giêsu và Đức Giêsu ở lại trong kẻ NHAI THỊT, uống máu Người (c. 56). Trần gian đoạ đày không còn là nơi bị phát lưu xa lìa Thiên Chúa nữa, mà đã trở nên nơi gặp gỡ kết hợp mật thiết với Thiên Chúa nhờ Thánh Thể, và một khi đã kết hợp với Con rồi thì cũng sẽ kết hợp với Cha: được Cha và con sai đi (x. Ga 20,21) và sự sống của Cha và Con cũng hoạt động sinh hoa trái nơi kẻ tin (x. Ga 20, 23; 6,57).
TÓM KẾT
Bàn tiệc do Đức Khôn Ngoan thiết đãi (bài đọc 1) đạt tới đỉnh điểm trong lời mời "ăn thịt, uống máu Ta” của Đức Giêsu.
Trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, lương thực nuôi thể xác mau hư nát đã được Thiên Chúa dùng biến thành thần lương nuôi linh hồn nhân thế. “Bánh vật chất”, “rượu trần gian” đã nên THỊT, MÁU Đức Giêsu.
Mầu Nhiệm “Thiên Chúa -ở- cùng chúng- ta= Emmanuel” được bạn tặng cho toàn thể nhân loại trong Mầu Nhiệm Nhập Thể giờ trở thành ơn huệ riêng biệt, độc đáo cho từng cá nhân khi cá nhân đó lấy đức tin đón nhận THỊT MÁU Đấng Emmanuel làm lượng thực cho hồn mình.
Về phía nhân loại, đức tin là quan trọng để hồng ân Emmanuel, hồng ân “ăn thịt uống máu Ta” được bám rễ và sinh hoa trái trong xác phàm phải chết nhân loại, nhờ đó khi ngày cánh chung đến sự sống thần linh của Thánh Thể mà tín hữu đón nhận mỗi ngày sẽ nảy mầm thành sự phục sinh thân xác. Còn trong hiện tại, ngay giây phút này, tại đây – hic et nunc – người tín hữu đã được “ở trong Thiên Chúa và Đức Giêsu” đồng thời được " Đức Giêsu và Thiên Chúa ở trong ta" hơn nữa còn được thông hiệp mật thiết vào sự sống và sứ vụ thần linh: (Ga 6,56. 57).
Pet. Đình Long, FSC
