Mưu đồ của phàm nhân và đường lối của Thiên Chúa - Chúa Nhật 25 Thường Niên Năm B

CHÚA NHẬT XXV MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B
Kn 2,12.17-20; Mc 9,30-37
Chủ đề: Mưu đồ của phàm nhân và đường lối của Thiên Chúa
* Kn 2,20: nào ta kết án cho kẻ công chính chết nhục nhã vì nó nói nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm.
* Mc 9,31: Con Người sẽ bị nộp… họ sẽ giết chết Người… và ba ngày sau sẽ sống lại.
Lời Chúa, Chúa Nhật XXV B mời chúng ta chiêm ngắm đường lối của Thiên Chúa và các phản ứng, toan tính của con người trước đường lối đó. Cũng cùng chủ đề với tuần trước, đường lối của Thiên Chúa là CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ, con đường duy nhất đưa tới ơn cứu độ. Bài đọc Tin Mừng tuần trước là trích đoạn Đức Giêsu loan báo Thập giá lần thứ nhất; Và hôm nay là loan báo Thập giá lần thứ hai.
Về phần phản ứng của con người, Chúa Nhật XXIV B chú trọng đến phản ứng của cá nhân: Người tôi trung trong bài một đã sẵn sàng đi vào đường lối của Thiên Chúa như một môn đệ; Còn Phêrô đã cản Đức Giêsu đi đường Thập Giá nên bị Người mắng nặng nề là Satan. Còn hôm nay, Mùa Thường Niên XXV B nhấn mạnh phản ứng theo NHÓM từ phía con người. Bài đọc một nói đến phản ứng và đúng hơn là mưu đồ của PHƯỜNG VÔ ĐẠO, chúng chống lại đường lối của Thiên Chúa, kéo theo mưu đồ tìm cách hãm hại người công chính vì người này đi theo đường lối Chúa. Trong Tin Mừng, phản ứng từ phía con người là của NHÓM MƯỜI HAI. Thái độ của nhóm môn đệ này cũng là một thái độ tiêu cực: theo đường của Đức Giêsu mà trong trí vẫn còn in đậm tham vọng lợi lộc cho cá nhân đến khi bị Chúa vạch mặt ra thì tìm lẩn tránh trong thái độ im lặng. Và rồi sự việc không chỉ dừng lại ở đó; Vì một khi đã chống lại đường lối của Thiên Chúa, thì rồi cái phải tới là con người chống lại nhau, tranh giành địa vị lợi lộc, loại trừ nhau. Đó là nét tiêu cực mà Chúa Nhật XXV B thêm vào nơi phản ứng của con người.
Thật vậy bài đọc một, Sách Khôn Ngoan phơi bày ra ánh sáng những mưu đồ thâm độc của phường vô đạo đối với người công chính, cũng như trong tương quan với đường lối của Thiên Chúa. Chúng vi phạm lề luật, không chịu tuân hành lễ giáo (2,12), chúng cư xử hung bạo, bất nhân đối với những người công chính và những kẻ yếu đuối (2,10-11). Sự phóng túng và lòng vô đạo giết chết lòng thương cảm và bác ái mà tâm hồn cao thượng vẫn dành cho những người yếu đuối và bất hạnh. Việc sống lạc xa đường lối Chúa lại khiến cho kẻ vô đạo đâm ra oán ghét những ai công chính, sống theo đường lối Chúa, vì lối sống ngay lành của con cái Chúa là những lời tố cáo không khoan nhượng không ngừng nhắm vào mọi thứ vô đạo. Việc người công chính sống trung tín với đường lối Chúa đã là một kết án nặng nề đối với phường vô đạo.
Để ngụy biện cho lối sống vô đạo của mình, kẻ ác lập luận xấc xược dựa trên bạo lực thách thức cả Thiên Chúa: Nếu quả thực Thiên Chúa uy quyền, nếu người công chính là con của Thiên Chúa thì Thiên Chúa hãy can thiệp bảo vệ người công chính đi. Vậy bây giờ chúng ta cứ ra tay hạ nhục, tra tấn bọn công chính, thử xem Thiên Chúa có cứu được chúng hay không? (so Is 36,13-20); Thử xem bọn công chính có còn sống hiền hòa, nhẫn nhục nữa hay không? Ta cứ kết án rồi giết phức chúng là xong để xem Thiên Chúa viếng thăm như thế nào? Những gì sách Khôn Ngoan mô tả là một báo trước Thập giá Đức Kitô.
Qua bài đọc Tin Mừng, Đức Giêsu trực tiếp đề cập đến con đường Thập giá, Phục Sinh lần thứ hai; Đối tượng vẫn là các môn đệ. Như vậy đường lối của Đức Giêsu đã quá rõ ràng, dứt khoát: muốn làm môn đệ Người, chỉ có một lối đi là đường Thập Giá. Và cũng như Phêrô trong lần mặc khải trước, các môn đệ vẫn chưa chia sẻ được ý nghĩa con đường thập giá của Đức Giêsu; nhưng lần này các ông rút kinh nghiệm từ việc của Phêrô lần trước, nên họ đã chọn thái độ IM LẶNG để đối phó với đòi hỏi của Đức Giêsu.
Thế nhưng tương quan nội bộ giữa các môn đệ với nhau thì sao? Họ chia rẽ nội bộ, tranh dành quyền lợi xem ai là người lớn hơn cả (c.34). Và tình trạng còn tệ hại hơn nữa khi Đức Giêsu mặc khải thập giá lần ba: các ông tức tối, ganh tỵ nhau (10,41) và chóp đỉnh, khi từ chối đường Thập giá sẽ là PHẢN BỘI: Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Thầy. Vậy thái độ quyết liệt chọn đường thập giá của Đức Giêsu đã buộc các môn đệ phải bộc lộ không sao giấu diếm được con người thật, khuynh hướng thật của mình. Điều quan trọng tiếp theo là CHỈNH SỬA: “ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (9,36). Đó là LÀM LỚN theo đường Thập Giá; và nền tảng của tầm nhìn đó, chính là Thiên Chúa đã đồng hóa Người với nhân loại bé nhỏ hèn yếu: “ai đón tiếp em nhỏ…là đón Thầy…là đón Đấng đã sai Thầy” (9,37). Vậy hãy chỉnh sửa cái nhìn, phản ứng, ước vọng của mình theo đường lối Thập Giá của Đức Giêsu.
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXV B THƯỜNG NIÊN
Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời họ sẽ giết chết Người và ba ngày sau… Người sẽ sống lại… Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người. (Mc 9,31.35)
Lời Chúa của Chúa Nhật XXV B Mùa Thường Niên tiếp tục chủ đề của tuần trước đề cập đến đường lối cứu độ của Thiên Chúa và phản ứng đáp trả lại từ phía của con người. Chủ đề hiện rõ nét trong hai bài đọc TinMừng: Đức Giêsu hai lần báo trước cuộc thương khó và phục sinh. Đối tượng chính và trực tiếp được Đức Giêsu nhắm tới là nhóm các môn đệ thân thiết, tức là mười hai tông đồ. Cả hai lần đều gặp phản ứng tiêu cực là từ phía các ông. Lần đầu là phản ứng biểu lộ cách công khai của cá nhân Phêrô và kết quả là Phêrô đã bị Chúa mắng cho là “Satan”. Lần thứ hai đụng phải phản ứng tập thể của tất cả nhóm môn đệ. Thế nhưng rút kinh nghiệm của Phêrô lần trước bị mắng nặng nề, nên lần thứ hai này, phản ứng chỉ biểu lộ ngầm giữa nội bộ với nhau thôi, không dám cho Thầy biết. Lần thứ nhất, Phêrô dường như sợ khó khăn nguy hiểm, muốn tìm sự an toàn nên đã ngăn cản Đức Giêsu. Còn lần thứ hai, hôm nay, các ông không thể hiểu được đường lối của Chúa vì các ông theo Người với khát vọng thâm sâu là để tìm tư lợi, để được thống trị kẻ khác: muốn làm người lớn hơn cả (9,34); Trong khi đó đường lối, mục đích của Đức Giêsu là chỉ đến để phục vụ mọi người trong khiêm tốn, đơn sơ (9,35-37).
Như vậy, nói chung, khuynh hướng tự nhiên của con người là chẳng ai muốn đi con đường Thập Giá của Đức Giêsu trong tư cách cá nhân cũng như trong tư cách tập thể. Cả hai Chúa Nhật XXIV B và XXV B đều nói đến đáp trả tiêu cực từ phía con người trước lời mời gọi “vác thập giá của mình mà theo Thiên Chúa” của Đức Giêsu. Chúa Nhật XXV B nhấn mạnh đến khía cạnh tập thể. Trong chiều hướng đó của chủ đề bài đọc một trích từ Sách Khôn Ngoan trình bày những toan tính mưu mô của PHƯỜNG (số nhiều) vô đạo, chúng mưu toan chống lại Thiên Chúa và tìm cách hãm hại người công chính. Khi bàn bạc với nhau chúng tự xưng là “ta” = ngôi thứ nhất số nhiều, tức là “chúng ta”. Vậy khía cạnh tập thể, kéo bè kéo lũ của chúng được nhấn mạnh. Khi Thiên Chúa bày tỏ đường lối Chúa để cứu nhân loại, khi người công chính dám sống theo đường lối đó thì chắc chắn là kẻ thù truyền kiếp của Thiên Chúa sẽ tụ họp bè lũ của Nó lại để hùa nhau chống lại Thiên Chúa và chính nhân.
Cái gian ác, hiểm độc của phường vô đạo là cái tính “bầy đàn” của tội lỗi, của điều ác: một khi cả một tập thể đồng lòng toa rập với nhau để làm điều ác thì chúng lại tráo trở, tuyên truyền “cả vú lấp miệng em” rằng đường lối của chúng là đúng. Và nếu không có ai dám nói lên sự thật, vạch mặt sự dối trá của chúng ra thì nhân loại có nguy cơ tự hủy diệt vì cứ mù quáng (hoặc vì bị đe dọa, sợ hãi) lao vào những ảo tưởng đầy sai trái do phường vô đạo vạch ra dưới sự chỉ đạo của “Con Rắn”.
Đường Thập Giá là phương thức hữu hiệu để ngăn chặn mưu đồ ma quỷ và tạo lại nguồn sinh lực đưa con người thoát khỏi ách quỷ ma. Thấy được dấu hiệu giờ tận số của Nó sắp tới, nên ma quỷ cuống cuồng huy động toàn bộ lực lượng của Nó để chống lại con đường Thập Giá. Tất cả mọi thế lực, mọi người đều bị chúng xung công; Qủy tận dụng mọi mánh khóe để đẩy nhân loại tránh xa Thập Giá, kể cả các môn đệ nếu họ không cẩn trọng: Giuđa đã bán Thầy, Phêrô đã chối Thầy, đoàn môn đệ bỏ Thầy một mình trên Thập Giá, tất cả đều trốn chạy.
Vì thế, Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh chúng ta:
1/ Xác tín vào con đường Thập Giá. Đó chính là vũ khí đập nát đầu Rắn.
2/ Phải hết sức tỉnh táo, đề phòng Qủy và các thuộc hạ phe nhóm của Nó luôn rình rập, gài bẫy đẩy ta xa lìa con đường Thập Giá.
Ma quỷ và bè lũ đồng bọn tay sai dư biết là chúng không thể nào chống lại được Thiên Chúa, do đó chúng dồn mọi nỗ lực tấn công nhân loại. Hai loại vũ khí Qủy thường dùng là bạo lực, hăm dọa… do bọn tay sai của Qủy thực hiện (bài 1) và loại vũ khí thứ hai là đánh vào những khát vọng, bản năng cơ bản của con người: muốn an toàn (Mc 9,32b; Mt 16,22b); thích được thể hiện con người mình (Mc 9,34); thích được thống trị (Mc 10,37), không muốn kẻ khác trổi trang hơn mình (Mc 10,41).
BÀI ĐỌC 1: Kn 2,12.17-20
Sách Khôn Ngoan là tác phẩm được soạn thảo cuối cùng của bộ Cựu Ước, vào khoảng giữa thế kỷ I TCN tại Alexandria trong một môi trường Do Thái hi lạp hóa.
Do sống chung đụng giữa chư dân, trong một môi trường văn hóa ngoại đạo, nên đã có những người Do Thái bội giáo, chỉ lo tìm an thân phú quý trong lối sống chạy theo ngoại bang. Bọn bội giáo này đã phối hợp với phường vô đạo ngoại bang tìm đủ cách bách hại những người Do Thái vẫn còn trung tín với Lề Luật, Lễ giáo của cha ông, dám sống theo Luật Chúa giữa chợ đời; Bởi vì lối sống ngay chính của các tín hữu trung thành là cái gai trước mắt bọn vô đạo, tự bản chất là một lời kết án nặng nề cho bọn bất trung.
Sách được viết ra để vạch mặt bọn điêu ngoa, xảo trá, đồng thời khích lệ những ai trung tín hãy kiên vững trong đức tin của mình. Nội dung của sách gồm 19 chương được chia làm ba phần: * Kn 1-5; * Kn 6-9; * Kn 10-19.
Bản văn bài đọc 1 trích từ phần đầu Kn 1-5. Phần này trình bày vai trò của Đức Khôn Ngoan trong vận mạng của con người; đồng thời đặt đối nghịch số phận của những người công chính với những phường vô đạo ở đời này cũng như sau khi chết. Riêng chương 2, tác giả cho thấy những suy tính sai lệch của ác nhân: chúng tưởng rằng giết hại người công chính là chúng sẽ che lấp được tội lỗi của mình. Chúng đã lầm vì Thiên Chúa có đó. Chính Chúa mới là Đấng quyết định chung cuộc và bền vững phúc hay họa (chương 3).
Kn 2 trình bày lý luận của kẻ gian ác:
- Chúng cho rằng cuộc đời này chóng qua, cuối cùng tất cả đều chết và vào âm ty tất cả (2,1-5).
- Do đó sống ở đời này chỉ cứ việc lo thụ hưởng, nhất là khi còn trẻ, hàm ý bất chấp luật lệ, lễ giáo (c.12). Chúng lấy bạo lực theo dục vọng của chúng làm quy luật cho công lý (c.11) (2,6-11).
- Từ đó chúng toa rập mưu đồ hại người công chính vì họ đã cản trở, tố cáo, vạch mặt lối sống vô đạo của chúng. Tự bản chất, lối sống tự nhiên của người công chính là một lời kết án cho kẻ vô đạo rồi (2,12-20).
Bài đọc 1 trích từ đoạn thứ ba của chương 2 trên. Đây là một tội, một dự tính tập thể, có chủ ý tính toán chứ không phải là chuyện yếu đuối cá nhân cục bộ. Phường vô đạo liên minh lại để hành động, kết bè kết lũ thành KHỐI, tạo thành một lực lượng, một lối sống vô luân, phi lễ giáo, một phe nhóm có cơ cấu, có tính pháp nhân được công khai nhìn nhận, ủng hộ (chẳng hạn như những bè nhóm ủng hộ phá thai, ủng hộ đồng tính hôn nhân…). Bản văn cho thấy rõ nét tập thể của các loại tội phạm đó, bằng chính lời hô hào, kích động đám đông của phường vô đạo: “CHÚNG TA HÃY…” (các câu 12.17.19). Mọi luật lệ, lễ giáo đều bị chúng xem như không có (câu 12); Bọn chúng dám ngang nhiên thách thức cả Thiên Chúa (câu 18.20); Còn đối với người công chính, chúng chụp mũ, hãm hại, bịt miệng… bằng “gài bẫy”, bằng những trò vu khống, bằng bạo lực (câu 12.17.19). Và cuối cùng, bọn chúng ra tay hành hạ và giết chết người công chính. Chúng lầm tưởng rằng với cái chết của người công chính thì Thiên Chúa cũng đành “bó tay” (c.20).
Đứng trước dã tâm của phường gian ác; Phần Thiên Chúa, chưa thấy Chúa phản ứng gì. Trong đức tin, những người còn tin vào Chúa và đường lối của Chúa có thể rút ra được bài học gì?
* Một lời đáp từ Cựu Ước:
Các chi tiết trong bài đọc 1 gợi lại câu chuyện ông Gióp: Satan (thủ lãnh của mọi phường vô đạo) không tin rằng lối sống đạo đức, công chính của ông Gióp là chân thật. Nó dường như mỉa mai Chúa, cho Chúa là thiên vị vì Chúa cho Gióp đầy đủ mọi thứ… Vì thế Nó đòi Chúa hãy thử thách Gióp. Nó dám thách thức, đánh cá với Chúa (G 1,9-11; 2,3-6). Kết quả: Qủy thua. Gióp vẫn trung tín đến cùng. Satan thì trốn tiệt. Chúa ân thưởng cho Gióp.
* Lời đáp đích thực: Thập giá và phục sinh của Đức Giêsu:
Đứng trước mầu nhiệm sự dữ, bất công, khổ đau… lời đáp rốt ráo trong đức tin Công Giáo là Thập Giá Đức Giêsu. Những chi tiết ta thấy trong bài đọc 1 sẽ gặp lại trong cuộc thương khó của Đức Giêsu; để rồi sau đó, lời đáp là phục sinh. Thật vậy, trong diễn tiến của cuộc khổ nạn:
- Căn tính “Con Thiên Chúa” của Đức Giêsu được mặc khải qua những lời thách thức, khích bác của phường ác nhân (x.Mt 27,43 so với bài 1: Kn 2,13.18)
- Đức Giêsu bị gài bẫy, bị bách hại, bị kết án chết (x.Mc 14,53-15,20 và các đoạn song song trong Mt và Lc, so với Kn 2,18.19.20).
- Bọn chúng đem những việc Đức Giêsu đã làm trước kia ra chế giễu, nhục mạ Người (x.Mc 15,29-32); Bọn chúng dám thách thức cả Thiên Chúa (x.Mt 27,25.39-44) so sánh với bài 1 Kn 2,18.20.
Những lời mỉa mai, cay độc tưởng chừng là niềm vui chiến thắng của chúng khi Đức Giêsu tắt thở… Tất cả đột nhiên bị tắt ngóm: Thiên Chúa can thiệp lạ lùng, ngay lúc Đức Giêsu gục đầu tắt thở, thì kẻ đóng đinh Người đã phải gục đầu tôn vinh: “con người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).
* Tạm kết: Thập giá của Đức Giêsu và nhất là cái chết của Người (đặc biệt nơi Mc 15,39) là lời đáp minh bạch cho những khúc mắc ẩn tàng trong bài đọc 1: ác tâm, gian kế của kẻ thù, của phường vô đạo đã được Thiên Chúa sử dụng làm phương thế cứu độ; Qua đó Thiên Chúa biểu dương, khen ngợi lòng tín trung của Người Công Chính; Đồng thời khẳng định Thiên Chúa luôn bênh đỡ người lành ngay; Và đó cũng là lời cảnh cáo cho ác nhân đừng ở lì trong những toan tính lầm lạc của mình. Đối với kẻ tin vào Đức Giêsu thì Thập Giá là con đường cứu độ: hãy kiên vững trong ơn gọi của mình. Tin Mừng tiếp tục khẳng định chân lý ấy qua lần thứ hai Đức Giêsu công bố cho môn đệ về con đường Thập Giá và phục sinh của Người.
TIN MỪNG: Mc 9,30-37
Sau khi chỉnh sửa, kiện toàn Lề Luật (Mc 7,1-23: ở đây là Luật về sạch dơ), Đức Giêsu mở rộng hồng ân thiên sai cho dân ngoại (Mc 7,24 – 8,10), rồi mở rộng thêm cặp mắt đức tin cho môn đệ qua phép lạ chữa lành anh mù ở Bet-sai-đa, Đức Giêsu giúp đoàn môn đệ, đặc biệt Phêrô tiến sâu hơn vào huyền nhiệm Mêsia của Người: tuyên tín (Mc 8,29), và tiếp đó là đưa riêng các môn đệ vào một giai đoạn mới của chương trình huấn luyện của Người: Chỉ trong một thời gian ngắn, Đức Giêsu đã ba lần mặc khải Thập Giá và phục sinh đặc biệt dành riêng cho đoàn môn đệ:
- Lần 1: ngay sau tuyên tín (8,31-32a).
- Lần 2: ngay sau Hiển Dung. Tức khoảng chỉ một tuần sau mặc khải lần 1 (x.Mc 9,2).
- Lần 3: lúc Đức Giêsu sắp tới Giêrusalem (10,32; 11,1) sau khi kín đáo tỏ mình là Đấng Mêsia qua việc chất vấn (10,18) và đòi hỏi một người giàu có, đạo đức phải bỏ tất cả mọi sự và đi theo Người để có được sự sống đời đời làm gia nghiệp (10,17-21).
Như vậy cứ sau mỗi lần hé lộ vinh quang thì Đức Giêsu lại mặc khải ngay “con đường” Người phải trải qua để đi tới vinh quang đó. “Vinh quang thần linh” và “con đường làm người, đường Thập Giá” là hai mặt không thể tách rời nhau được nơi con người Giêsu, đặc biệt Marcô rất chú trọng điểm đó (Mc 1,1). Và đối với Marcô, chết sống trọn vẹn như một con người theo ý Cha thì đủ để mặc khải vinh quang thần linh rồi (Mc 15,39).
Tin Mừng hôm nay là lần thứ hai Đức Giêsu mặc khải về Thập Giá và phục sinh. Tiếc thay, đáp trả của đoàn môn đệ trước mặc khải này là tiêu cực (hai lần kia cũng vậy): họ “lén lút” tranh nhau xem ai là người lớn nhất. Và Đức Giêsu đã phải khổ công điều chỉnh: Đức Giêsu không cấm làm lớn (cơ chế đặt Phêrô làm lớn với quyền bính bao trùm thế giới là do Đức Giêsu lập ra mà); vấn đề là động cơ và mục đích: làm lớn là vì yêu Chúa và để phục vụ tha nhân, để đem cả mạng sống mà làm chứng nhân cho Chúa (x.Ga 21, 15-19; Mc 9,35).
* Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời (9,31b) chi tiết này không có trong lần loan báo thứ nhất (8,31). Mc 8,31 chỉ trình bày các sự kiện xảy ra: “chịu đau khổ nhiều”, “bị loại bỏ”, “bị giết chết” và nhấn mạnh tới vai trò chủ động của các lãnh đạo Do Thái; kỳ mục, thượng tế, kinh sư. Bọn họ là tác nhân chính gây ra cái chết của Đức Giêsu; nhưng điểm đến của khổ đau là phục sinh. Sự đau khổ, cái chết không đem lại ơn cứu độ; chỉ sức sống mới của phục sinh mới giải cứu, đem lại sự sống đời đời cho con người.
Trong Mc 9,31b xuất hiện cụm từ “bị nộp trong tay”. Cụm từ này thường gặp trong Kinh Thánh diễn tả tình trạng người công chính bị nộp vào tay kẻ dữ: Đn 3,32; 7,25; 14,29-30; Tv 27,12; 41,3; 44,12; 119,121… nhưng rồi cuối cùng Thiên Chúa cũng can thiệp giải cứu (Đn 14,42), được chiếm hữu vương quốc (Đn 7,22), vương quốc đã được trao ban cho Con Người (Đn 7,22)…
Như vậy câu “Con Người bị nộp trong tay” mặc khải cho ta một khía cạnh vô cùng quý giá của cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu: cuộc khổ nạn này đúc kết và hoàn tất trọn hảo nỗi đau khổ của những người công chính, sự bách hại mà các ngôn sứ đã trải qua, và cái chết của các vị tử đạo.
Còn trong Marcô, đây là hạn từ chuyên môn diễn tả sự phản bội: Giuđa “nộp” Đức Giêsu cho các thượng tế (Mc 14,10); đến lượt các thượng tế “nộp” Người cho Philatô (Mc 15,1.10), cuối cùng Philatô “nộp” Người cho bọn lính đem đi đóng đinh (Mc 15,15).
(chú giải Tin Mừng Chúa Nhật Mùa Thường Niên B 472).
* Về mặt ngôn ngữ:
“Con Người” = huios tou anthropou dịch sát là “người con trai của con người, của nhân loại”; “Người đời” = anthropos = “những con người” = nhân loại.
“bị nộp” = parađiđôtai, động từ ở thì HIỆN TẠI, THỤ ĐỘNG hàm ý “bị nộp” không phải là một tai nạn nhất thời, bị phản bội và xảy ra chỉ một lần trong dòng lịch sử rồi xong. Động từ ở thì “hiện tại” hàm nghĩa việc làm này lập đi lập lại và luôn mang tính thời sự. Còn thể thụ động trong Kinh Thánh thường được sử dụng để nói đến một hành động của Thiên Chúa, nhưng tránh đề cập trực tiếp đến TÊN của Người.
“Sẽ sống lại” = anastesêtai, động từ ở dạng chủ động, thì tương lai, lối trình bày, hàm ý hành động sống lại là do Đức Giêsu chủ động, mang tính lịch sử và giá trị vĩnh tồn.
Vậy hàm ý của câu này trong tiếng hi lạp rất rõ: Đức Giêsu thực sự là con cái của nhân loại (Con Người), nhưng rồi lại bị chính “những con người” tức là bà con, người nhà của mình phản bội, chối từ, bắt bớ (Ga 1,10-11). Và việc làm “nộp” này là HIỆN TẠI, là chuyện thường ngày trong thế giới nhân loại tội lỗi; Và kẻ góp phần gây ra Thập giá trong từng giây phút, tại chỗ của dòng lịch sử chính là MỖI NGƯỜI CHÚNG TA khi chúng ta chọn nghiêng về điều xấu. Còn dạng thụ động hàm ý đây là hành động, dự tính của Thiên Chúa.
Tại sao Thiên Chúa lại có một dự tính kỳ cục như thế? Tại sao Chúa lại làm khổ “Con Người vô tội” (Đức Giêsu) và để cho “con người dù bội phản” (nhân loại) lại chìm đắm trong sai lầm chết người như thế?
Không đâu!
Chỉ nghĩ tới khổ đau và chết, đó là “tư tưởng của loài người”, còn “tư tưởng của Thiên Chúa” là phục sinh. Khổ đau, chết là ngưỡng cửa phải bước qua để vào nhà chứ không phải là nơi ở lì tại đó. Thật vậy:
Bị giết rồi,
* Sau ba ngày, Người sẽ sống lại:
Ở đây, con số “ba” không hiểu theo nghĩa toán học. Trong Kinh Thánh, “ba ngày” ám chỉ giai đoạn thử thách, tối tăm, chiến đấu, khổ đau… nhưng đó cũng là giai đoạn thanh luyện tận căn nhằm lột hết đi, hủy diệt những gì là cũ kỹ mục nát, chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới. Thật vậy:
- Abraham, “ba ngày vác thập giá” đưa con là Isaac tới núi Moriyah để hiến tế cho Thiên Chúa. Nhưng sau ba ngày đó ông thấy “phục sinh” (St 22,11-18)
- Giona, sau ba ngày tối tăm, tưởng chết trong bụng cá thì lại nhìn thấy ánh mặt trời và con người hoàn toàn biến đổi: từ một kẻ trốn chạy trách nhiệm, trở thành người công bố lời Chúa cho dân Ninivê (Gn 2,1-11).
- “Sau ba ngày” còn gợi lên Hs 6,2: hai ngày Thiên Chúa sửa phạt và ngày thứ ba là ngày chữa lành.
Vậy dự tính của Thiên Chúa không phải là làm khổ mà là thanh luyện tận căn để đưa tới cuộc sống mới. Chỉ với Thập Giá, những gì thâm sâu nhất trong con người mới tỏ hiện. Đó là điều kiện tiên quyết để được chữa lành, được tha thứ và hồi sinh.
Trong tương quan với Nhóm Mười Hai: nếu Thập Giá không xuất hiện thì mãi mãi các ông là “Satan”, là “tranh lớn bé”, là “giành ngồi tả hữu”.
Nhờ Thập giá, mới lộ ra nét tiêu cực chết người, lộ ra con người thật: bán Thầy, chối Thầy, bỏ Thầy bơ vơ một mình trên Thập Giá. Nhưng đó không phải là điểm đến.
Điểm đến là NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI.
* Phản ứng môn đệ (9,32,34)
Không có Thập Giá, môn đệ sẽ chết trong lầm lạc của mình:
- Tạo bè lũ, tách rời khỏi Thầy: không hiểu lời Đức Giêsu, nhưng không hỏi lại muốn đi tìm đáp số trong bè lũ riêng mình.
- Lén lút tranh nhau “ai lớn nhất”. Cơn cám dỗ lần này đến từ nội tâm lệch lạc của các ông. Tuy nhiên căn nguyên vẫn là một: lấy tư tưởng của mình làm chuẩn thay vì lấy tư tưởng Thiên Chúa (Mc 8,33).
- Tội tập thể: đồng lòng che đậy cho nhau. Adam, Eva bị Chúa hạch tội thì đổ lỗi cho kẻ khác, để che đậy lầm lỗi cá nhân mình. Còn ở đây, rõ ràng sai lỗi là của cá Nhóm, đâu còn đổ lỗi cho ai được. Thế là tìm một hình thức khác để che tội cho cá nhân mình: đồng lòng “im lặng đáng sợ” trước lời chất vấn của Đức Giêsu: Tập thể đã trở thành một nơi để con người núp sau đó trốn tránh tội lỗi của mình. Danh nghĩa tập thể trở thành một chiêu bài vô hồn được dựng lên để che đậy cho nhau sống vô trách nhiệm; Cả bè lũ ru ngủ nhau để “an tâm” sống trên những sai lạc của mình. Như thế thì diệt vong là điều chắc chắn, nếu không có ai can đảm đứng lên ngăn chặn lại cái đã dối gian, đồng lõa đui mù ấy.
* Chỉnh sửa của Đức Giêsu (9,35-37)
Đối tượng Đức Giêsu nhắm trực tiếp đến là Nhóm Mười Hai. Không thể khởi đầu cái mới với đám đông đại trà được. Hai giáo huấn, Đức Giêsu dạy cho Nhóm Mười Hai ở đây là:
- Phục vụ: ở phần dẫn nhập bài suy tư Tin Mừng chúng ta nhận xét: Đức Giêsu không cấm làm lớn, nhưng vấn đề là động cơ và mục đích. Các môn đệ nhấn mạnh đến quyền lợi, còn Đức Giêsu thì hướng tới phục vụ (9,35).
- Đón tiếp: chi tiết Đức Giêsu nhấn mạnh là sự bình đẳng khi đón tiếp qua việc đồng hóa bản thân Người với một em bé (9,37).
Thoạt nhìn dường như Đức Giêsu không đáp trả trực tiếp nội dung điều các tông đồ tranh luận. Thực ra là có. Người lớn nhất là người PHỤC VỤ và ĐÓN TIẾP anh em mình. Đón tiếp, phục vụ như thế nào? Qua hình ảnh đồng hóa em bé (kẻ nhỏ nhất) với Cha (Đấng lớn nhất), Đức Giêsu nhắc lại các nền tảng của phẩm giá con người: con người là hình ảnh Chúa. Vậy người lớn nhất là người PHỤC VỤ và ĐÓN TIẾP tha nhân trong ý thức rõ rằng tất cả mọi người, kẻ cho người nhận, đều là hình ảnh của Thiên Chúa.
TÌM HIỂU 2 BÀI ĐỌC
Chủ điểm phụng vụ
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tiếp tục mời tín hữu chiêm niệm chủ đề Thập Giá là con đường cứu độ đồng thời cho thấy các phản ứng của phàm nhân trước đường lối đó. Đường lối của Thiên Chúa được biểu lộ qua Lề Luật, lễ giáo và chóp đỉnh là qua mặc khải của Đức Giêsu, đường Thập Giá cứu độ, Thập Giá đưa tới phục sinh.
Đức Giêsu mặc khải lần thứ hai cho các môn đệ rằng Thập Giá là con đường Người phải trải qua để đạt tới phục sinh, hồi phục nhân loại, hoàn tất sứ mạng Thiên Chúa đã trao cho Người. Trước mặc khải đó, phản ứng từ phía con người như thế nào? Lời Chúa nhấn mạnh hơn đến phản ứng, thái độ đáp trả từ phía con người trước đường lối cứu độ đó của Thiên Chúa.
Người công chính thì luôn luôn phó thác, tuân phục Ý Chúa, sẵn sàng đón nhận con đường Thập Giá; Còn phần lớn phàm nhân, nhất là phường vô đạo thì chống đối, làm méo mó ý nghĩa của con đường Thập Giá. Chúa Nhật 25B lại lưu tâm hơn đến khía cạnh tiêu cực này. Nhưng rồi cuối cùng, Đức Giêsu cũng đã chỉnh sửa lại và lợi dụng nét tiêu cực ấy để dạy các môn đệ hiểu hơn đường lối của Thiên Chúa: LÀM LỚN LÀ PHỤC VỤ.
Bài đọc 1 thuật lại những âm mưu của phường vô đạo nhằm ám hại người công chính. Bọn vô đạo sống vi phạm Luật Chúa, không tuân hành lễ giáo. Vì thế cuộc sống chính trực kèm theo những góp ý chỉnh sửa ngay thật của người công chính đã trở thành lời kết án gay gắt kẻ vô đạo. Do đó bọn chúng mới âm mưu lập kế để ám hại người công chính. Chúng lập luận “ta hãy gài bẫy… hạ nhục, tra tấn tên công chính để xem nó hiền hòa làm sao, thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta hãy kết án cho nó chết nhục nhã”. Kẻ gian ác tưởng rằng khi giết hại người công chính rồi là bọn chúng có thể yên tâm vi phạm luật Chúa và chẳng còn ai dám chỉ trích, bắt bẻ chúng nữa.
Ngạo ngược hơn nữa, ngang qua âm mưu ấy, bọn chúng còn thách thức cả Thiên Chúa: “nếu tên công chính là con Thiên Chúa hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù, để xem Thiên Chúa có viếng thăm nó như nó nói hay không?”
Trong bài đọc Tin Mừng, các tông đồ cùng bị rơi vào điều sai trái khi họ đi theo Đức Giêsu làm môn đệ thân tín mà lại từ chối con đường Thập Giá, chỉ muốn dành tiện nghi, phần hơn cho bản thân mình. Thật vậy, trong Tin Mừng, lần thứ 2, Đức Giêsu nói rõ ra về con đường Thập Giá mà Người phải trải qua, nhưng Người nhấn mạnh “3 ngày sau khi bị giết chết, NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI”. Hóa ra mưu đồ, ác ý của phường vô đạo lại trở thành công cụ để Thiên Chúa hoàn tất dự tính sáng tạo của Người trong Đức Giêsu “Người là Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo” (Cl 1,15 so với St 1,26a- 27b). Tiếc thay, trước mặc khải đầy niềm vui ấy, thái độ đáp trả của đoàn môn đệ là tiêu cực : "các ông không hiểu điều đó, sợ, không dám hỏi lại Người". Tệ hơn nữa lại dấu diếm Đức Giêsu, âm thầm tranh nhau “xem ai là người lớn hơn cả”.
May thay Đức Giêsu đã nhìn thấu tâm can họ và điều chỉnh kịp thời:
- Muốn làm lớn ư ? Được thôi! Hãy phục vụ mọi người.
-Làm lớn là phải nhận ra Đức Giêsu, nhận ra Cha hiện diện trong những kẻ bé mọn nhất để tôn trọng, phục vụ họ như làm cho chính Thiên Chúa, vô điều kiện.
Như vậy để giải thoát các môn đệ khỏi tầm nhìn qui ngã, ích kỷ, Đức Giêsu khẳng định lần nữa đường lối thập giá của Thiên Chúa dưới một dạng thức khác: “ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”. Vì thực ra khi phục vụ, cho dù là người bẻ nhỏ nhất, thì các môn đệ đã phục vụ chính Đức Giêsu và chính Cha.
Trong Thập Giá và phục sinh của Đức Giêsu, Thiên Chúa đặt con người trước ngã ba đường: chọn theo mặc khải của Đức Giêsu hay chống lại?
Phụng vụ Lời Chúa mời tín hữu nhìn vào Đức Giêsu và làm một cuộc hoán cải nội tâm tận căn: từ nay đừng nhìn mọi sự dưới cặp mắt phàm trần nữa mà với cái nhìn tín thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa như Đức Giêsu.
BÀI ĐỌC I: Kn 2, 12. 17-20
Văn mạch
► Vài hàng về Sách Khôn ngoan (Monique Piettre “Comprendre la Parole”, Chúa Nhật 13B)
Đây là tác phẩm muộn thời nhất của Cựu Ước, được soạn thảo khoảng thế kỷ I TCN tại Alexandria trong một môi trường Do Thái hi hóa. Vào thời đó, Alexandria là một thủ phủ của nền văn hóa Hi Lạp, nhưng ở đó cũng có rất đông người Do Thái sinh sống (cả trăm ngàn), tạo nên một trung tâm Do Thái. Không rõ tác giả sách Khôn ngoan là ai nhưng người ta đã lấy tên vua Salomon làm tác giả theo tập tục mạo danh thời đó. Sách được viết bằng tiếng Hi Lạp nhắm vào đám dân không biết hay biết ít tiếng Do Thái. Tác giả ngỏ lời cùng các đồng hương đang bị chính quyền quấy nhiễu. Trước kia dòng họ Ptôlêmê VII (146-117) và nhất là Ptôlêmê VII (117-81) thì các quyền tự do tôn giáo, chính trị dành cho người Do Thái bị rút lại, và họ bị sách nhiễu bách hại. Dường như sách Khôn ngoan được soạn thảo trong bầu khí này và tác giả muốn ngăn ngừa nguy cơ bội giáo. Là tín hữu đạo đức, gắn bó với truyền thống tôn giáo tiền nhân, nhưng tác giả cũng là người cởi mở, biết tiếp nhận hội nhập thích nghi những khái niệm triết học Hi Lạp để diễn tả Thần Học, đức tin của cha ông.
Ông đau lòng trước thực trạng là có những người Do Thái bội giáo, tìm an thân phú quý trong lối sống chạy theo ngoại bang. Bọn này đã chế giễu, tìm cách bách hại những người Do Thái vẫn dám trung tín với lề luật, lễ giáo cha ông, dám sông theo luật Chúa. Sách được soạn phản ánh tính trạng này đồng thời khích lệ những ai trung tín hãy kiên trì trong đức tin của mình.
► Văn mạch: Sách Khôn Ngoan gồm ba phần rõ rệt (CGKPV “Các sách Giáo Huấn” 535). Bản văn phụng vụ trích từ phần I, Kn 1-5. Phần này trình bày vai trò của Đức Khôn Ngoan trong vận mạng của con người, đồng thời đặt đối nghịch số phận của những người công chính với những kẻ vô đạo ở đời này và sau khi chết. Riêng trong chương 2, tác giả cho thấy những suy tính sai lệch của kẻ vô đạo, chúng tưởng rằng bách hạo người công chính là chúng sẽ che lấp được tội lỗi mình. Chương 3 cho thấy chúng đã lầm vì Thiên Chúa có đó để bênh đỡ người công chính: biến các tai ương thành con đường phúc lộc; còn kẻ ác bị Chúa trừng phạt.
Lý luận cuả kẻ ác trong chương 2.
- 2, 1-5: chúng cho rằng cuộc đời này chóng qua, cuối cùng tất cả đều vào âm ty.
- 2, 6-11: vậy sống ở đời cứ việc lo thụ hưởng, nhất là khi còn trẻ, hàm ý bất chấp luật lệ, lễ giáo (chương 12), chúng lấy bạo lực của chúng làm quy luật công lý (câu 11).
- 2, 12 -20: từ đó bọn chúng mưu đồ hại người công chính vì họ đã cản trở lối sống vô đạo của chúng; lối sống của họ tố cáo kẻ vô đạo, vạch ra sai lầm của chúng.
Bài đọc 1 trích phần thứ 3 của chương 2: bọn vô đạo lập mưu hãm hại người công chính. Lối lập luận của chúng như một lời thách thức Thiên Chúa; lý lẽ dựa trên bạo lực bất chấp công lý.
CẤU TRÚC VÀ CHÚ THÍCH
1. Mưu đồ của phường vô đạo đối với người công chính (Kn 2, 12)
► Lập mưu: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính” (12a)
► Lý do mưu hại:
- Cản trở chống đối việc làm của kẻ ác (12b)
- Trách cứ, tố cáo những sai phạm lề luật (12de)
Chủ mưu: “TA” tức là “quân vô đạo” (1, 16). Ở đây ám chỉ những người Do Thái đã bỏ đạo, bách hại các anh em Do Thái của mình và thách thức Thiên Chúa; nhưng cũng còn có thể ám chỉ những người ngoại giáo tôn thờ vật chất nữa. Quân vô đạo là phần sở hữu của cái chết; còn Israen là phần của Yavê (Đnl 32, 9; Dcr 2, 16; 2Mcb 1, 26), cũng chư Thiên Chúa là phần của kẻ trung tín với Người ( Tv 10,5; 73,26; 142,6) (x. CGKPV, “Các sách Giáo huấn, trang 542 nốt “p”).
Mưu đồ được biểu hiện ra trong cụm từ “gài bẫy”: kẻ vô đạo tạo ra, bố trí những chướng ngại, tình huống hiểm nghèo mà theo lẽ thường tình thì không thể có để người công chính có thể bị vấp ngã và rơi vào âm mưu bọn chúng. “Gài bẫy” có thể hiểu mạnh hơn nữa là vậy, lùa, kéo, xô đẩy cho rơi vào bẫy.
Lý do gài bẫy: muốn loại người công chính ra khỏi cuốc sống với ảo tưởng rằng có thể an tâm sống vô đạo; muốn che đậy sự ác bằng bạo lực, mưu mô gian trả kể cả giết người. Bởi chính “lối sống của người công chính là lời tố cáo không ngừng những con người đang dán mình vào mọi thứ vô đạo. Có thể trong cộng đồng những người do thái ở hải ngoại lúc bấy giờ, có những người vẫn một lòng gắn bó với luật Môisê và truyền thống của tổ tiên ( c.15 và nốt “b”), đối lại là một số người khác, vì bị môi trường và tư tưởng ngoại giáo tác động, nên dần dần đã phán bội niềm tin do cha ông truyền lại. Vì thế, nguyên sự hiện diện của những người trung thành với lề luật đã là một lời tố cáo những kẻ vô đạo rồi” ( sđd 544 nốt “y”).
2. Khai triển ý đồ ngạo ngược của phường vô đạo (Kn 2,17 – 20)
2.1 Niềm xác tín của người công chính
Chính ý đồ của phường vô đạo giúp ta nhận ra vài nét về người công chính
► Người Công Chính nói mình là con Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ phù hộ và cứu mình khỏi thù địch (18) tin Thiên Chúa sẽ viếng thăm mình (20bc)
► Làm: từ đó lối sống Người Công Chính là hiền hòa, nhẫn nhục
2.2 Phường vô đạo mía mai niềm tin trên
► “Ta hãy coi… và nghiệm xem…” (17)
► Nghi ngờ, thách thức: NẾU tên công chính là…
HẲN Thiên Chúa sẽ…và…” (18)
2.3 Phường vô đạo quyết định bách hại người công chính
► Hạ nhục, tra tấn (19a)
► Kết án cho nó chết nhục nhã (20a)
“Ta hãy coi ... và nghiệm xem ..." phường vô đạo bàn bạc với nhau để ám hại người công chính. Nhưng qua đó chúng ta nhận ra vài nét về dung mạo của người công chính.
- Người công chính biết Thiên Chúa, là con Thiên Chúa (cc.13.18 và xem sđd 544 a, 545 d). Sách Khôn ngoan chắc chắn là chưa biết đến tử hệ thần linh, điều chỉ được mặc khải và thông ban trong Đức Giêsu. Tuy nhiên đây đã là một dọn đường tuyệt vời cho mặc khải tương lai.
- Người công chính tin Thiên Chúa phù hộ mình, cứu mình khỏi thù địch, tin Thiên Chúa sẽ viếng thăm cho dù tình trạng trước mắt là đang bị khốn cùng.
- Từ niềm xác tín đó thái độ sống của người công chính luôn hiền hòa, nhẫn nhục.
“Nếu ... hẳn ...": phản ứng của phường vô đạo là không tin vào niềm tin và lối sống của người công chính. Họ mỉa mai niềm tin ấy, và qua đó họ thách thức cả Thiên Chúa (Tv 22,8-9), xem Thiên Chúa có cứu được người công chính ra khỏi tay chúng, khỏi tai hoạ không (Is 37,13-20).
Cuối cùng bọn chúng đã ra tay hành hạ, giết chết người công chính.
Các tình tiết trên khiến ta nghĩ đến chuyện ông Gióp: Satan không tin lối sống đạo đức của ông Gióp là chân thật. Nó trách Chúa thiên vị, cho Gióp đủ thứ... vì thế Nó đòi thử thách Gióp, đánh cá với Chúa (G 1,9-11; 2,3-6). Kết quả: Quỷ đã lầm, Gióp vẫn trung tín.
Trong tầm nhìn viên mãn của mặc khải, chúng ta nghĩ tới Đức Giêsu và Thập giá của Người:
- Người tự xưng là Con Thiên Chúa (được mặc khải qua mưu đồ của ác nhân: Mt 27,43)
- Gài bẫy, ra tay bách hại, kết án chết: Mc 14,53-15,20 và các đoạn song song.
- Chế giễu niềm tin: Mc 15,16-37 // Thách thức cả Thiên Chúa: Mt 27,25.39-44
- Nhưng chúng đã lầm: Đức Giêsu thực là Con Thiên Chúa, Chúa phù trợ Người: Mc 15,39 //.
Thập giá của Đức Giêsu là lời đáp minh bạch cho những gì được mô tả trong bài đọc 1: ác tâm của kẻ thù đã được Thiên Chúa sử dụng làm phương thế cứu độ, qua đó Thiên Chúa biểu dương, tán tụng lòng tín trung của người công chính; Đồng thời khẳng định Thiên Chúa luôn bênh đỡ người công chính và ác nhân hoàn toàn lầm lạc trong mưu đồ bọn chúng. Đó là bài học, lời gọi mời cho mọi tín hữu là những người đã được Thiên Chúa làm nên công chính nhờ phép rửa và giáo huấn Đức Giêsu : Hãy kiên trì sống ơn gọi của mình!.
TÓM KẾT
Lối sống thẳng ngay của người công chính luôn là một cái gai trong mắt phường vô đạo. là một lời lên án nghiêm khắc khiến chúng phải bất an. Từ đó chúng rơi vào sai lầm: thay vì hồi đầu hoán cải, chúng lại âm mưu tìm dẹp bỏ chướng ngại bằng bạo lực, rắp tâm mưu hại người công chính. Tuy nhiên Thiên Chúa lại biến ác tâm ấy thành cách Chúa biểu lộ quyền lực và tình yêu: nỗi thống khổ do ác nhân gây nên lại là con đường cứu độ cho người công chính.
Qua các âm mưu của phường vô đạo dung mạo người công chính được tỏ bày: hiền hoà, nhẫn nhục, kiên trì tuân giữ luật và nét chính: Con Thiên Chúa. Từ đó ta cũng nhận ra được đường lối của, Thiên Chúa đối với người công chính: dùng cuộc đời, lối sống của người công chính để vạch mặt, cảnh tỉnh phường vô đạo; những khó khăn hiện tại chỉ là điều sẽ qua, chắc chắn Thiên Chúa mãi phù trợ và viếng thăm cứu giúp; các khổ đau là lối thử luyện của Tình Yêu. Vấn đề là người công chính cần kiên trì đón nhận trong phó thác. Tin Mừng sẽ mặc khải rõ: đó là đường thập giá mà Đức Giêsu là người công chính tuyệt hảo đã chọn đi, vì đó là thánh ý Thiên Chúa, con đường cứu độ.
TIN MỪNG: Mc 9, 30-37
Văn mạch
Sau tuyên tín của Phêrô, Tin Mừng Marco bắt đầu cho môn đệ trực diện với huyền nhiệm thập giá: 3 lần Đức Giêsu nói rõ về thập giá và Phục Sinh, và cả 3 lần các môn đệ đều có phản ứng tiêu cực trước mặc khải ấy. Đức Giêsu đã phải khổ công điều chỉnh lại, tăng thêm giáo huấn nhằm giúp các ông tiến dẫn vào huyền nhiệm, trước khi Thầy trò bước vào trận chung kết tại Giêrusalem. Cấu trúc tổng quát:
| Mạc khải Thập giá và Phục Sinh | Môn đệ phản ứng |
Đức Giêsu điều chỉnh | Và giáo huấn | |
| Lần 1 |
8,31-32a
|
8,32b
|
8,33
|
8,34-9,29
|
| Lần 2 |
9,30-31
|
9,32-34 9,38
|
9,35-37 9,39-40 |
9,41-10,31
|
| Lần 3 |
10,32-34
|
10,35-37 10,41 |
10,38-40 10, 42-45 |
10,46-52 (chữa lành anh mù Batimê)
|
Tin Mừng hôm nay là lần thứ 2 mặc khải về thập giá và Phục Sinh, kèm theo các phản ứng tiêu cực của môn đệ tranh nhau xem ai là người lớn nhất, và lời điều chỉnh lại của Đức Giêsu: làm lớn là phục vụ. (xem thêm ở Bài Suy Niệm)
CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH
1. Lần 2 mặc khải thập giá và Phục Sinh (Mc 9,30-31)
* Bối cảnh: đang trên hành trình từ Núi Hiển Dung về lại Capharnaum (30a so với 33a) và Đức Giêsu không muốn hoạt động công khai tại Galilê nữa (30b)
* Nội dung: “Đức Giêsu DẠY:
- Con Người bị nộp vào tay người đời
- Họ sẽ giết chết người
- Và 3 ngày sau khi bị giết, Người sẽ sống lại (31)
Bối cảnh: Đức Giêsu đang tiến dẫn đến đỉnh cao của sứ mạng trần thế của mình: thập giá tại Giêrusalem. Người rời bỏ Galilê (9.30), đến Capharnaum (9,33) rồi băng qua bờ bên kia của sông Giođan và tiến về Giuđêa (10,1), và chỉ ít lâu sau Người đã đến Giêrusalem (11,1) chuẩn bị đương đầu với thập giá.
Phần các môn đệ đã được Người mặc khải cho thấy căn tính của Người: Đấng Mêsia (8,29); nhưng là 1 Mêsia thập giá rồi sẽ phục sinh (8,31-32a); là Đấng phục sinh, Con Thiên Chúa (9,2-7). Nhưng các ông dường như không biến chuyển. Chính vì thế Đức Giêsu cấp thiết mặc khải tiếp cho các ông về thập giá và Phục Sinh lần 2. So sánh lần 1 (8,31) và lần 2 (9,31):
|
Lần 1 (Mc 8,31) Con Người phải (đêi) và sẽ sống lại |
Lần 2 (Mc 9,31) Con Người sắp
|
Trong lần 1 (8, 31), cụm từ “bị nộp trong tay” không có, được thay bằng các sự kiện “chịu đau khổ nhiều, bị loại bỏ”; lưu tâm đến vai trò chủ động của các lãnh đạo Do Thái, họ là tác nhân chính gây ra cái chết của Người; còn động từ “sống lại” thì ở dạng nguyên mẫu (inf.aorist 2); việc sống lại được nhấn mạnh như là cùng đích của các đau khổ. Vậy 8, 31 chỉ mới loan báo sự kiện, những cái sẽ diễn ra trước mắt. Đức Giêsu chịu đau khổ, bị các thủ lãnh Do Thái loại trừ, bị giết chết, 3 ngày sau thì Phục Sinh; chứ chưa cho thấy tại sao, cái nguyên do sâu thẳm, những sự kiện ấy lại xảy ra.
Lần 2 thoáng cho câu đáp, nhấn mạnh đến tương quan, ý nghĩa của các sự kiện ngang qua các chi tiết trong 9, 31:
- Parađiđôtai: hiện tại, thụ động. Đây là hành động của Thiên Chúa và luôn là hiện tại, nghĩa là sẽ lập lại hoài suốt dòng lịch sử.
- “Con của con người” bị nộp vào tay của những con người: Đấng bị nộp là “đứa con trai của người” thường được dịch là Con – Người (Đn 7, 13); kẻ bách hại Người lại chính là “ những con người”. Chính nhân loại tội lỗi bắt bớ Người con công chính của mình, Đấng được sai đến để cứu và cai trị đất trời tất cả. Chi tiết này nhấn mạnh khía cạnh ác ý, sự khước từ từ phía con người trong mầu nhiệm thập giá của Đức Giêsu. (Xem thêm ở Bài suy niệm).
- Người sẽ sống lại: nhấn mạnh sự sống lại là hành động của chính Đức Giêsu. Vai chủ động là của Đức Giêsu.
Vậy thập giá không phải là một thua cuộc của Đức Giêsu trước ác ý phàm nhân. Sự dữ không cứu được ai và nếu sự dữ là kẻ thống trị thì số phận của tạo vật thật là bi đát. Thập giá là dự tính yêu thương của Cha, là sự tự nguyện chủ động đáp trả của con, còn sự ác phàm nhân chỉ là tương kế tựu kế của Thiên Chúa. Do đó ngay cả những kẻ đã sát hại Đức Giêsu chỉ cần hoán cải, ý thức cái sai của mình là vẫn hưởng được ơn tha thứ của Thiên Chúa (x.Lc 23, 34).
- Nộp VÀO TAY hoặc cứu KHỎI TAY thường được dùng trong Cựu Ước để diễn tả thực trạng người công chính bị bách hại (x.Gr 26,24; Tv 74,1; 140,5; Đn 7,25). Vậy cuộc khổ nạn của Đức Giêsu đúc kết và hoàn tất trọn hảo nỗi đau khổ của những người công chính, sự bách hại mà các ngôn sứ đã trải qua và cái chết của các vị tử đạo. Cách hiểu này ăn khớp với bài đọc 1.
Động từ NỘP ở hiện tại đi đôi với kẻ bách hại là NHỮNG CON NGƯỜI hàm ý thập giá Đức Giêsu còn tái diễn mãi. Đó luôn là một biến cố hiện tại và kẻ góp phần gây ra thập giá cho Đức Giêsu là chính mỗi người chúng ta mỗi khi chúng ta nghiêng theo điều xấu. Đây là đường lối lạ lùng của Thiên Chúa và Người quyết thực thi đến cùng để qua đó cứu toàn vũ tru.
2) Phản ứng của môn đệ ( Mc 9,32-34)
* Thái độ đối với Đức Giêsu: sợ, không hiểu, không dám hỏi lại (c. 32)
* Thái độ đối với nhau: tranh đua hơn thua địa vị
- Thời điểm tranh luận: đang trên đường về nhà: “dọc đường”
- Bị Đức Giêsu vạch mặt: “dọc đường anh em bàn tán điều gì vậy” (c. 33).
- Phản ứng: làm thinh
- Lý do (nội dung tranh luận) “vì cãi nhau xem ai là người lớn nhất (c. 34).
Mầu nhiệm thập giá quả thật vượt quá sức hiểu con người. Phản ứng các môn đệ hết sức tiêu cực (không hiểu nhưng lại sợ, không dám hỏi lại Đức Giêsu, muốn trốn chạy sự thật. Từ đó kéo theo một sai lầm khác trong tương quan theo Đức Giêsu làm môn đệ: thay vì phục vụ lại tranh nhau quyền lợi, xem ai lớn nhất. Chính cái nhìn lệch lạc này đã đưa các môn đệ tới chỗ chối Thầy, bỏ Thầy khi đụng phải thập giá vì với thập giá, chẳng còn gì để tranh dành hơn thua nữa. Đó là theo Chúa vì quyền lợi chứ không theo Chúa chỉ vì Chúa để rồi sẽ phục vụ tha nhân. Cuộc tranh luận này phản ánh một thực trạng của cộng đoàn nguyên thuỷ: tranh nhau vị trí đứng đầu (x.Ga 21), phe phái (1Cr 1-4), ngay cả trong các buổi cử hành phụng vụ các tín hữu cũng còn phân biệt ngôi thứ ( x.Gcb 2,1-4) (chú giải Phúc Âm CN năm B trang 478).
3) Đức Giêsu điều chỉnh, giáo huấn (Mc 9,35-37)
*Đối tượng: nhóm 12 “gọi Nhóm Mười Hai lại và nói " (c. 35a)
* Nội dung giáo huấn: người đứng đầu phải phục vụ mọi người (c. 35b).
* Giáo huấn về đón tiếp: đồng hoá em bé: nhỏ nhất
với Đấng sai Thầy: lớn nhất
Môn đệ nhắm tới quyền lợi, Đức Giêsu nhắm tới phục vụ. Dường như thoạt nhìn, Đức Giêsu không trả lời cho cuộc tranh luận. Thực ra là có: Đức Giêsu đưa ra chuẩn mực để đánh giá lớn hay nhỏ. Đó là PHỤC VỤ và ĐÓN TIẾP nhau.
Việc đồng hoá em bé (nhỏ nhất) với chính Người và Thiên Chúa (lớn nhất) nhắc lại nền tảng phẩm giá của con người: con người là hình ảnh Chúa.
TÓM KẾT
Thập giá là con đường cứu độ đã được Thiên Chúa và Đức Giêsu chọn. Đó là điều vượt sức suy nghĩ của phàm nhân và khó chấp nhận: phản ứng tiêu cực của các môn đệ là một minh hoạ. Thế nhưng Thiên Chúa và Đức Giêsu vẫn dứt khoát giữ lập trường: Người mời các ông phải thay đổi não trạng. Trước tiên bằng một thay đổi giá trị sống: làm lớn phải phục vụ; tiếp đến là một sự đồng hoá: “ai tiếp đón một em nhỏ ... là tiếp đónh chính Thầy.. Đấng đã sai Thầy”. Vậy thập giá mà Đức Giêsu chờ đợi nơi ta không nhất thiết phải là đau khổ, làm những việc hy sinh lớn lao .... Nhưng là phục vụ kẻ bé mọn cách vô vụ lợi. Đó là 1 khía cạnh đơn giản của Thập Giá mà ta có thể vác mỗi ngày như Đức Giêsu đã đòi hỏi (Mc 8, 34b; Lc 9, 23).
Nối kết với bài đọc 1 khía cạnh đau khổ của Thập Giá được nổi bật. Tuy nhiên đó lại là phương tiện được Chúa dùng để cứu độ nhân loại. Vậy “vác Thập giá mỗi ngày theo Thầy” có nghĩa là hãy là cộng tác viên của Thầy, cùng Thầy phục vụ tha nhân để mọi người được ơn cứu độ.
Pet. Đình Long, FSC