CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN B 
Cv 1,1-11; Mc 16,15-20
Chủ đề: Lệnh truyền trước khi thăng thiên: rao giảng và làm chứng nhân cho Đấng Phục Sinh khắp thế giới


* Cv 1,8b-9: anh em sẽ là chứng nhân của Thầy…cho đến tận cùng trái đất. Nói xong Người được cất lên ngay trước mắt các ông.

* Mc 16,15.19: anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng…Nói xong Người được đưa lên trời.

Hôm nay, Giáo Hội Việt Nam mừng trọng thể lễ Đức Giêsu phục sinh thăng thiên, chấm dứt sứ vụ hữu hình của Người tại trần thế, về lại với Chúa Cha trong vinh quang thần linh từ muôn thuở của Ngôi Lời Thiên Chúa; Đồng thời nhân tính của Người cũng được tôn vinh là kurios (ĐỨC CHÚA) đến độ muôn loài trên trời, dướt đất, trong âm phủ đều phải thần phục Người, mà tôn vinh Thiên Chúa Cha (x.Pl 2,10-11).

Thực ra, trong Giáo Hội hoàn vũ, lễ Thăng Thiên được mừng vào ngày thứ năm, sau Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh, tức là đúng 40 ngày sau đại lễ Phục Sinh, đúng theo những gì trong Cv 1,3 đã ghi lại. Tuy nhiên Giáo Hội Việt Nam đã dời lễ này vào Chúa Nhật VII Mùa Phục Sinh là tạo điều kiện thuận lợi để tín hữu ở Việt Nam dễ dàng tham dự, thông hiệp vào Mầu Nhiệm trọng đại này.

“Sự kiện Chúa Giêsu thăng thiên đánh dấu việc Người trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước khi nhập thể (x.Ga 3,13). Lễ này nói lên việc nhân tính của Người tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa một cách vĩnh viễn (x. Ga 16,28; 17,5). Nó đánh dấu sự kết thúc sứ mệnh hữu hình của Chúa Giêsu ở trần gian và khởi đầu sứ mệnh của Giáo Hội…Với biến cố thăng thiên, Chúa Giêsu không còn hiện diện trong thân xác hữu hình như trước kia, nhưng Người vẫn hiện diện với Giáo Hội cho đến ngày tận thế (x.Mt 28,20) theo phương cách mới – theo quyền năng của Chúa Thánh Thần, với tư cách là Chúa của vũ trụ (x.Pl 2,10-11) (HĐGMVN tiểu Ban Tự Vựng “Từ điển công giáo” – Thăng Thiên, Lễ)

Trong phụng vụ, bài đọc một trích đoạn Cv 1,1-11 được chọn đọc cho cả ba năm A - B - C; Tin Mừng thì theo chu kỳ Mt -A; Mc -B; Lc - C.

Bài đọc một thuật lại những hoạt động cuối cùng của Đức Giêsu trong thân xác hữu hình, nhắm vào đối tượng là các tông đồ, là những người đã được Đức Giêsu tuyển chọn nhờ Chúa Thánh Thần, trong khoảng thời gian là 40 ngày, nhằm dọn lòng các ông chuẩn bị đón nhận hồng ân Chúa Thánh Thần; Và nội dung thứ hai của bài đọc một là nói về biến cố Đức Giêsu thăng thiên. Chúng ta chỉ lưu tâm đến phần 2:

Với những hình ảnh biểu tượng quen thuộc trong Cựu Ước, Cv 1,9 đã cho chúng ta thấy được ý nghĩa của Thăng Thiên: câu 9 gồm 3 chi tiết:

1. “Đức Giêsu lên trời”: “Trời là nơi Thiên Chúa ở” (Tv 2,4; 102, 20; 103,19; ĐNTHTK “Trời” III). Vậy “lên trời” là được đi vào cảnh vực thần linh, nơi ở của Thiên Chúa, được thông dự vào quyền lực, vinh quang của Thiên Chúa, nghĩa là nhân tính của Đức Giêsu được tôn vinh là Chúa (Pl 2,10).

2. “ngay trước mắt các ông”: cách nói gợi lại truyện tích Elisa đã nhìn thấy thầy mình là Elia lên trời “ngay trước mắt” nên đã được thừa kế toàn bộ thần khí của thầy để tiếp tục sứ mạng của thầy mình (x.2V 2,9-15). Vậy các tông đồ sẽ được bảo đảm tràn đầy Chúa Thánh Thần để chu toàn sứ vụ như Đức Giêsu.

3. “và có đám mây rước Người lên khuất mắt các ông”: trong Cựu Ước, “mây” là dấu cho thấy Thiên Chúa đang hiện diện (Xh 13,21-22; 24, 15-18). Vậy mây rước Đức Giêsu lên có nghĩa là Đức Giêsu từ nay đi vào vinh quang Thiên Chúa, và các môn đệ sẽ không còn thấy Người hữu hình nữa. Thời sứ vụ của Giáo Hội bắt đầu.

Bài đọc Tin Mừng là đoạn cuối cùng của Tin Mừng Maccô. Đoạn cuối này nhấn mạnh đến quyền LÀM CHÚA tối cao của Đấng Phục Sinh trên mọi thọ tạo qua cách diễn tả sau:

- Người trách các tông đồ đã cứng lòng không tin vào các chứng từ phục sinh (c.14).

- Tuy nhiên, Người hướng các ông về tương lai: trao cho các ông sứ mạng loan báo tin mừng Phục Sinh: Giêsu chính là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa (Mc 1,1). Việc Người phục sinh là bảo chứng cho tin mừng đó; Và cứu độ những ai tin nhờ phép Rửa (c.15).

- Để củng cố sứ điệp Phục Sinh, Đấng Phục Sinh hứa đồng hành với môn đệ qua các DẤU LẠ. Các cách nói ở các câu 17-18 không nhắm vào ý nghĩa vật chất y khoa cho bằng là nhắm vào việc chữa lành linh hồn qua các bí tích để cứu những ai TIN.

- Và cuối cùng Maccô đề cập đến vinh quang Thăng Thiên qua cách diễn tả “CHÚA Giêsu được rước lên Trời và ngự bên hữu Thiên Chúa”. Cách nói “ngự bên hữu” mượn từ Tv 110,1, hàm ý rằng từ nay Đức Giêsu nắm uy quyền của một Thiên Chúa trong tư cách là Thiên Chúa.

Tóm lại, qua Thăng Thiên, một con người thật trong nhân loại đã được tôn vinh là Thiên Chúa, chủ tể muôn loài. Đó là bước mở đường cho con người, chẳng những về lại “Trời cao” mà còn được thông phần thiên tính làm con cái Thiên Chúa.



SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN B


“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo… Nói xong CHÚA Giêsu được đưa lên Trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông” (Mc 16,15.19.20)

Theo đúng lịch phụng vụ thì hôm nay là Chúa Nhật VII Mùa Phục Sinh. Nhưng nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Giáo Hội Việt Nam lại cử hành tưởng niệm biến cố Thăng Thiên của Đấng Phục Sinh, là một biến cố xảy ra bốn mươi ngày sau lần hiện ra đầu tiên của Đấng Phục Sinh (x.Cv 1,3.9). Đây là khoảng thời gian mà các môn đệ còn được tiếp xúc hữu hình với Đấng Phục Sinh qua các giác quan. Như vậy ngày Chúa về Trời phải là ngày thứ năm sau Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh.

Đối với đức tin của chúng ta, việc cử hành tưởng niệm một biến cố cách nay cả hai ngàn năm thì có xê dịch một vài ngày thì chẳng có gì to lớn. Điều quan trọng là qua các chi tiết được Kinh Thánh lưu truyền lại, Thiên Chúa muốn gởi đến cho Hội Thánh sứ điệp gì?

Riêng bài một và Tin Mừng năm B có cấu trúc và nội dung rất gần nhau:

 1/ Phản ứng của Đấng Phục Sinh trước đức tin còn non yếu của các tông đồ

Bài một lẫn Tin Mừng đều cho thấy đức tin của nhóm môn đệ vào việc Đức Giêsu phục sinh còn yếu kém, chưa xác tín lắm. Vì vậy trong bài một, Đấng Phục Sinh mới tìm cách bổ sung các điểm yếu: niềm tin vào Mầu Nhiệm Phục Sinh và Nước Trời (Cv 1,3); Còn trong Tin Mừng, Đức Giêsu trách họ đã không tin.

Để khắc phục điểm còn yếu kém đó, trong bài một, Đấng Phục Sinh đã có một “khóa bồi dưỡng bổ sung bốn mươi ngày” và lời hứa ban Thánh Thần; Còn trong Tin Mừng, Chúa hứa đồng hành với họ trên con đường sứ mạng, không những chỉ đồng hành với các tông đồ mà còn đồng hành với tất cả những ai tin mọi thời (Mc 16,17).

2/ Dặn dò lần cuối rồi sai đi

Trong bài một, Đấng Phục Sinh dặn họ phải ở lại Giêrusalem, không được bỏ đi đâu cả để chờ đón Chúa Thánh Thần, rồi sau đó sai họ đi làm chứng nhân cho Đấng Phục Sinh đến tận cùng cõi đất (Cv 1,4.8); Còn trong Tin Mừng, dù họ còn yếu tin, Đấng Phục Sinh vẫn sai họ đi “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”, làm phép rửa ban ơn cứu độ cho ai tin và Đấng Phục Sinh hứa đồng hành sát cánh trợ giúp họ.

3/ Đấng Phục Sinh thăng thiên: cả hai bài đọc đều nói đến chi tiết Đức Giêsu lên trời với những nét giống và khác nhau: 

* Giống: bài một: “Người được cất lên ngay trước mắt các ông”; Còn Tin Mừng thì nói “Chúa Giêsu được đưa lên trời”.

* Khác: bài một: “có đám mây quyện lấy Người”; Còn Tin Mừng: “và ngự bên hữu Thiên Chúa”. Thực ra, 2 cách nói này có cùng 1 ý nghĩa: Đức Giêsu đã đi vào vinh quang thần linh. Người được tôn vinh là Chúa, nắm giữ uy quyền của một vị Thiên Chúa (Pl 2, 9-11). 

4/ Bổn phận, sứ mạng của môn đệ: từ nay, môn đệ phải đích thân đảm nhận công cuộc của Thầy, là cánh tay nối dài của Thầy cho đến tận thế.

* Trong bài một, sách Công Vụ nhấn mạnh hơn tới những nguy cơ, cám dỗ luôn rình rập Hội Thánh:

- Chưa ý thức được tính phổ quát của ơn cứu độ, vẫn còn đầu óc cuộc bộ “Thưa Thầy có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?”

- Đang sống trong hiện tại mà cứ hướng mắt về “Trời cao” của Ngày Quang Lâm mà quên mất trách nhiệm phải làm trong hiện tại.

Chính vì thế, Đấng Phục Sinh phải chỉnh sửa (x.Cv 1,7) và thiên thần phải khéo léo nhắc nhở các ông (x.Cv 1,11): không quên Trời cao, quang lâm, nhưng mọi sự phải bắt đầu từ hiện tại của trần thế: làm chứng nhân… cho đến tận cùng trái đất.

   * Còn trong Tin Mừng, Maccô nhấn mạnh vai trò chủ động, làm Chúa của Đấng Phục Sinh: dù đã về Trời nhưng Đức Giêsu vẫn tiếp tục công việc cứu độ của Người với quyền Chúa của Đấng Phục Sinh nhưng biểu lộ hữu hình ngang qua công cuộc trần thế của các tông đồ (Mc 16,20). Thật vậy, mặc dù bị Chúa trách là cứng lòng tin (c.14) nhưng đáp trả của môn đệ trước lệnh truyền: loan báo Tin Mừng khắp thế gian, và làm phép rửa ban ơn cứu độ (16,15-16) thì đoàn môn đệ đã hăng say nhập cuộc ngay (c.20).

Như vậy qua biến cố Thăng Thiên và các lệnh truyền dặn dò các môn đệ, Đấng Phục Sinh đã hồi phục phẩm giá của nhân loại. Thật vậy, dù phận con người mỏng dòn, yếu đuối, các môn đệ vẫn là cánh tay nối dài của Đấng Phục Sinh đem Tin Mừng đến cho mọi loài thọ tạo (Hồi phục con người sau sa ngã ở vườn Eđen, Eva đã là cánh tay nối dài của Rắn: x.St 3,6). Dầu vẫn còn những nghi ngại. Những giới hạn của phận làm người, các môn đệ vẫn dấn thân làm chứng nhân, loan báo Tin Mừng nhờ có Đấng Phục Sinh đồng hành (x.Mc 16,20) và nhận được sức mạnh Thánh Thần của Thiên Chúa (x.Cv 1,8). Một kỷ nguyên của Hội Thánh và Chúa Thánh Thần bắt đầu. Chúng ta suy niệm thêm vài chi tiết trong hai đoạn lời Chúa của lễ Thăng Thiên năm B:

TRONG BÀI ĐỌC TIN MỪNG

A.    Bài đọc Tin Mừng Lễ Thăng Thiên B mở đầu bằng một lệnh truyền của Đấng Phục Sinh: hãy đi truyền giáo, loan báo Tin Mừng (M16,15).

1/ Tầm cỡ VŨ TRỤ của ơn cứu độ của Tin Mừng được Marcô nhấn mạnh anh em hãy “đi khắp tứ phương thiên hạ” (dịch sát “đi khắp vũ trụ”) và loan báo Tin Mừng cho “mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Câu trên khẳng định dứt khoát rằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu không chỉ là Tin Mừng cho nhân loại mà thôi mà còn là cho toàn thể vũ trụ, bao trùm toàn bộ công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa hồi phục công trình sáng tạo và đưa đến chỗ hoàn tất (x.Rm 8,19-22; Cl 1,15-23). Sự cứu rỗi do Đức Giêsu thực hiện trên Thập Giá không chỉ liên hệ đến nhân loại mà thôi đâu, mà còn mang một tầm kích vũ trụ. Nơi bản thân Người, chính toàn thể vũ trụ đã bị kết án đồng thời cũng được cứu chuộc. Sự phục sinh và thăng thiên của Người là “bó lúa đầu mùa” của “tạo thành mới” được gặt về dâng Cha, là bảo chứng cho mùa gặt phong nhiêu vào thời sau hết (x. 1 Cr 15, 20.23: “aparkhe”).

2/ Tuy nhiên, phần con người, Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do của họ (x.Mc 16,16): trong Mt 28,29, điểm nhấn là vai trò của những người đi rao giảng: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ”. Còn Marcô thì lại chú tâm đến thái độ đáp trả của người nghe: “ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Thực ra “giảng” và “nghe” là hai nhịp của một vấn đề, cần phải phối hợp với nhau để đưa tới đức tin như thánh Phaolô đã chia sẻ: “làm sao họ tin Đấng mà họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng nếu không được sai đi? (Rm 10,14b.15a). Vậy đối với Marcô, thái độ của mỗi người một khi đã được nghe “Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1) sẽ quyết định số phận của họ. Nói theo kiểu của Tin Mừng Gioan trong các bài đọc Tin Mừng của các Chúa Nhật trước, thì Tin Mừng mà các tông đồ loan báo chính là sức sống của chính Đấng Phục Sinh, qua các tông đồ đã chuyền tải đến từng người. Ai đón nhận, HIỆP THÔNG với sức sống ấy thì sẽ sinh hoa trái, sẽ ở lại trong Thầy và trong Tình Yêu Ba Ngôi.

Vậy “Tin sẽ được cứu” đồng nghĩa với cách nói “thuộc về đàn chiên của Người” (Ga 10,26), là đi vào trong mối hiệp thông mật thiết, thâm sâu với Người và sinh trái tốt như “Cây Nho” với “Nhánh Nho” (Ga 15,1-8).

3/ Ai tin và CHỊU PHÉP RỬA: trong câu 16 này, mối hiệp thông được diễn tả bằng một cam kết qua nghi thức biểu tượng, đó là hoa trái của người rao giảng và của người nghe giảng: bí tích RỬA TỘI. “Nghe” thì phải dẫn tới “tin”; “tin” sẽ đưa tới hiệp thông qua phép rửa (x. Rm 10,17) và đó chính là ơn cứu độ. Một khi đã chịu phép rửa trong đức tin thì người nghe trở nên môn đệ và đi vào mối hiệp thông với Đức Giêsu, với Thiên Chúa, với các tín hữu khác; Để rồi tới phiên mình sẽ thực thi việc rao giảng, đón nhận người nghe, làm phép rửa (xem bài đọc một tuần trước). Khía cạnh Giáo Hội và bí tích của mầu nhiệm hiệp thông được làm nổi bật ở đây. Tin và hiệp thông với Thiên Chúa và Đức Giêsu phải là hiệp thông qua, với Giáo Hội và các bí tích.

4/ Sẽ được ơn cứu độ: ân huệ mà Đấng Phục Sinh hứa ban cho “ai tin” không là những lợi lộc trần thế mà là “ơn cứu độ”. Ơn cứu độ không phải là hoa trái của các việc làm công đức trần thế giống như một người đạo đức giàu có trong Mc 10,17 vẽ ra. Đó không phải là những tích lũy cho bản thân do mình làm được điều này việc nọ. Nhưng đó là một ân huệ từ trời, Thiên Chúa mang đến tặng không (chính là Đức Giêsu) và con người cần hoán cải tận căn để đón nhận: thay vì tích lũy, hãy chia sẻ để đừng bám víu vào điều gì ở trần thế nữa, rồi đến THEO ĐỨC GIÊSU, Đấng từ trời đến chỉ cho ta con đường cứu độ (x.Mc 10,17-21).

Vậy đích đến của lệnh truyền tối hậu của Đấng Phục Sinh là làm cho tất cả vũ trụ tin vào con đường cứu độ do Đức Giêsu mang đến, tin vào con đường Thập Giá và Phục Sinh của Đức Giêsu. (Vậy mà điều này các môn đệ còn thiếu và bị Đức Giêsu quở trách: câu 14). Lệnh truyền này là một điều chỉnh, là một chỉ thị tối hậu của Đấng Phục Sinh cho đoàn môn đệ trước khi để các ông hoàn toàn tự lập.

5/ Các dấu lạ kèm theo (Mc 16,17-18): theo câu 17a thì những người làm được dấu lạ là “những ai có lòng tin” tức là toàn thể tín hữu chứ không riêng gì các tông đồ. Thật vậy, 1Cr 12,28-29 cho thấy có nhiều tín hữu không phải là tông đồ cũng được ơn làm phép lạ. Có lẽ Mc 16,17-18 được soạn thảo dựa trên những sự kiện thật đã diễn ra trong các Giáo Hội (x.Cv 16,18; 28,3-5.8…). Thật ra phép lạ không phải là cùng đích. Đó chỉ là các dấu chỉ giúp nhận ra thời Mêsia đã tới (x.Mt 11,2-6). Hơn nữa việc chữa lành thể xác chỉ có giá trị nhất thời, rốt cuộc cũng phải chết. Điều Chúa muốn đem tới là ơn cứu độ. Vậy các phép lạ thể lý không là điều chính yếu. Để ban ơn cứu độ, Đấng Phục Sinh ngày nay vẫn ban quyền làm dấu lạ hữu hiệu cho Giáo Hội qua các bí tích, lời Chúa, nhờ đó tín hữu mọi thời đều có cơ may được chữa lành, nhân loại được gặp Đấng Phục Sinh, tiếp cận với Thiên Chúa và được ơn cứu độ.

-    Cấu trúc: ta gọi là A: lệnh truyền vừa được trình bày trên, Mc 16,20 chính là nét văn chương đối xứng của thể văn bao hàm (đối với bản văn được đọc trong phụng vụ hôm nay). Thật vậy A là lệnh truyền thì A' là thi hành:

A  A'

- Anh em hãy đi khắp tứ phương(c. 15). 

- Nhân danh Thầy…           (c.17)

- Trừ quỷ, nói tiếng lạ…      (c.18)

- Còn các tông đồ thì đi…khắp nơi(c.20a).

- Có Chúa cùng hoạt động…(c.20b)

- Dùng những dấu lạ kèm theo…(c.20c)

B
Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (c.19)

   
B. Biến cố Thăng Thiên (câu 19)

Trung tâm của bài đọc Tin Mừng là c.19 nói về Chúa Thăng Thiên. Trong một câu này, có ba yếu tố nói lên vinh quang thần linh của Đấng Phục Sinh:

* Kurios: đây là tên mặc khải của Thiên Chúa cho Môsê (Xh 3,14). Khi áp dụng danh xưng này cho Đức Giêsu, các tín hữu xác tín rằng Người là Thiên Chúa như Yavê. Mở đầu Tin Mừng, Marcô giới thiệu: Giêsu là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa (Mc 1,1). Con đường để đạt tới tầm mức đó là đường Thập Giá (x.Mc 15,39). Và giờ đây, Đấng Phục Sinh biểu lộ công khai vinh quang đó cho đoàn môn đệ để thiết đạt họ làm chứng nhân cho Người. 

* Được đưa lên trời: “Trời” ở đây không là nơi chốn địa lý mà là cách diễn tả của người xưa: đó là nơi Thiên Chúa ngự trị. Vậy với biến cố Thăng Thiên, Đức Giêsu (một con người như ta, giống ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi) được hiệp thông vào cảnh vực thần linh. Từ nay giữa lòng nhân loại, đã có một con người với nhân tính trọn vẹn đã được đưa vào quỹ đạo thần linh của Thiên Chúa một cách trọn vẹn và vĩnh viễn.

Với Thăng Thiên, nhân loại được hồi phục và tôn vinh; Phần Thiên Chúa, Người hoàn tất công trình sáng tạo cứu độ của Người: con người là hình ảnh Thiên Chúa.

* Ngự bên hữu Thiên Chúa hình ảnh vay mượn từ Tv 110,1.

“Bên hữu” là vị trí vinh dự; “Ngồi bên hữu” là dấu chỉ được thông chia quyền bính. “CHÚA Giêsu ngự bên hữu” nghĩa là từ nay nhân tính của Đức Giêsu được tôn vinh là CHÚA, là nơi mà vinh quang thiên tính được tỏ lộ trọn vẹn; Nói cách khác, từ nay lịch sử cứu độ được lật đến trang cuối; Triều đại “quyền làm Chúa” của Giêsu được khai mở: nhân tính được hồi phục hoàn toàn và vĩnh cửu: ơn gọi “hình ảnh Thiên Chúa” nơi con người được hoàn tất và còn được nâng lên hàng con cái Thiên Chúa. 

Vậy với Marcô, Thăng Thiên không nhấn vào cuộc ra đi của Đức Giêsu mà là cuộc đăng quang “quyền làm CHÚA của Giêsu” trên toàn vũ trụ. Triều đại mới đã khai mạc, phần còn lại của “cán bộ” là làm mọi người thần phục quyền đó.

TRONG BÀI ĐỌC MỘT: Cv 1,9

Về ý nghĩa của biến cố Thăng Thiên, sách Công Vụ cũng diễn tả cùng một nội dung: nhân tính Đức Giêsu được tôn vinh đưa vào vinh quang Thiên Chúa; Tuy nhiên cách diễn đạt có chút khác biệt: dùng các điển tích Cựu Ước: 

* “Người được cất lên”: cách nói tương đương với “được đưa lên trời” của Marcô.

* “Ngay trước mắt các ông”: gợi lại điển tích 2V 2,9-15. Trước khi Elia được Chúa rước về trời, học trò là Elisa xin cho được “gấp đôi thần khí của Thầy”: Elia nói: khó quá! Nhưng nếu môn đệ thấy Elia khi ông được đem đi thì sẽ được. Elisa đã thấy và đã nhận được trọn vẹn thần khí của thầy, hoạt động thay thế thầy. Vậy việc thấy tận mắt Đức Giêsu lên trời hàm ý các tông đồ sẽ nhận được tràn đầy Thánh Thần của Đấng Phục Sinh để hoạt động hữu hiệu như Người.

* Và có đám mây quyện lấy Người: trong Cựu Ước, “đám mây” là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Đức Giêsu được cất lên…và có đám mây quyện lấy Người hàm ý rằng Người là Thiên Chúa, Người đang đi vào trong vinh quang của Thiên Chúa.

Nhưng cũng chính đám mây ấy lại che khuất người không cho các ông nhìn thấy được Người với mắt phàm được nữa. Nghĩa là từ nay, Người không còn hiện diện hữu hình giữa các ông nữa, một sự hiện diện đầy giới hạn của thân phận làm người. Tuy nhiên khi đi vào thế giới thần linh thì Đấng Phục Sinh lại hiện diện giữa môn đệ một cách quyền năng, Người đồng hành, cùng hoạt động với các tông đồ trong cương vị mới là “CHÚA” (x.Mc 16,20).

Tóm: với biến cố Thăng Thiên, một giai đoạn mới của lịch sử cứu độ bắt đầu. Giai đoạn Giáo Hội chính thức công khai đảm nhận sứ mạng của Đức Giêsu như là THÂN THỂ của Người, Người là ĐẦU; Và được linh hoạt bởi CHÚA THÁNH THẦN để hoàn tất dự tính của CHA trong lúc chờ Quang Lâm. 


TÌM HIỂU 2 BÀI ĐỌC

Chủ đề phụng vụ

Đức Giêsu lên trời chấm dứt sự hiện diện hữu hình của Người nơi trần gian. Biến cố này mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ: giai đoạn của Giáo Hội. Do đó, ngoài biến cố thăng thiên, Lời Chúa hôm nay còn đề cập đến sứ mạng mà Đấng Phục Sinh đã trao cho các môn đệ trước khi Người về trời: hãy đi loan báo Tin Mừng, làm chứng cho Đấng Phục Sinh đến tận cùng trái đất.

Bài đọc 1, sách Công vụ thuật lại những hoạt động hữu hình cuối cùng của Đấng Phục Sinh: trong 40 ngày, Người bổ túc giảng dạy về Nước Thiên Chúa, cố gắng thuyết phục các tông đồ xác tín Người đã sống lại, điều chỉnh những sai lạc, chuẩn bị cho các ông đón nhận Chúa Thánh Thần, và trước khi về trời, Người trao cho các ông sứ mạng làm chứng nhân cho Người tại Giêrusalem...và cho đến tận cùng trái đất. Trong lúc các ông còn ngỡ ngàng trước biến cố thăng thiên, sứ thần được sai đến nhắc nhở các ông hãy quay về với thực tại, hàm ý lo chu toàn sứ vụ đã được trao, chờ ngày Đấng Phục Sinh lại đến.

Tin Mừng Maccô cũng thuật lại lời trao ban sứ mạng cho nhóm 11 trong lần hiện ra cuối cùng trước khi Đấng Phục Sinh về trời. Nội dung sứ mạng: đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo, công bố ơn cứu độ cho kẻ tin và án phạt cho kẻ không tin. Kèm theo lời rao giảng là các phép lạ. Sau khi Đấng Phục Sinh lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa, các tông đồ ra đi thực hiện lệnh truyền của Đấng Phục Sinh và chính Người, với quyền năng thần linh cùng hoạt động với các ông, dùng dấu lạ kèm theo xác nhận lời các ông rao giảng.

BÀI ĐỌC I: Cv 1, 1-11

Văn mạch

Sách Công vụ được coi là cuốn 2 của bộ sách của Luca, mà Tin Mừng thứ 3 là cuốn 1. Đây là đoạn mở đầu sách Công vụ, nhắc lại một số chi tiết đã được dề cập đến trong phần kết thúc của Tin Mừng Luca. Phần này có vai trò nối kết Tin Mừng Luca với sách Công vụ, đồng thời cũng đưa ta vào chủ đề sách Công vụ là sứ mạng của các tông đồ. Nội dung gồm: 

     - Lời tựa gởi cho Thêôphilô cho biết đây là cuốn 2.

     - Đoạn 2 tóm lược các hoạt động cuối cùng của Đấng Phục Sinh nhằm hoàn tất công cuộc huấn luyện các tông đồ, chuẩn bị cho các ông sẵn sàng tự mình đảm nhận công cuộc rao giảng mà Người đã khởi sự, không cần sự hiện diện hữu hình của Người nữa.

     -Cuối cùng là biến cố thăng thiên với lời nhắc nhở của thiên sứ đưa các ông về lại thực tế với sứ mạng phải hoàn tất chờ ngày Đức Giêsu quang lâm. Sau đó các ông về nhà chờ đợi Chúa Thánh Thần để bước vào giai đoạn mới. 

Bài 1 là phần mở đầu cho tới lúc Đức Giêsu thăng thiên và kết thúc với lời thiên sứ nhắc nhở các môn đệ trở về với cuộc sống và sứ mạng đã được Đấng Phục Sinh trao chuẩn bị cho ngày Người quang lâm. 

CẤU TRÚC VÀ CHÚ THÍCH

1. Lời tựa: móc nối với sách Tin Mừng 3 (Cv 1, 1-2a)

❖ Độc giả: “Thưa Ngài Thêôphilô”

❖ Tác phẩm và tác giả: đây là cuốn 2 trong 1 bộ 2 cuốn: “trong cuốn 1, Tôi đã tường thuật...”

❖ Nội dung cuốn 1: những gì Đức Giêsu làm và dạy từ đầu cho tới khi Người lên trời. 

Đọc lời tựa ta có thể nhận ra rằng sách Công vụ là cuốn 2 của một bộ gồm 2 cuốn: cuốn 1 là Tin Mừng thứ 3. Tác giả “Tôi” là Luca. Độc giả được ẩn dưới cái tên Thêôphilô.

Thưa ngài: “kratiste” là danh xưng dùng cho bậc đáng kính, quyền uy.

Thêôphilô: tên hi lạp, có nghĩa là “bạn hữu của Thiên Chúa”. Có thể là tên 1 cá nhân hoặc là tên đại diện cho 1 tầng lớp dân chúng, văn hoá nào đó.

Luca đề tặng tác phẩm cho một người thế giá là có hy vọng rằng vị đó sẽ giúp cho việc truyền bá tác phẩm. Vì theo tập tục thời đó, l cuốn sách được tác giả đề tặng ai thì người nhận có chủ quyền trên cuốn sách và phải nhận trách nhiệm phổ biến sách. Do đó không có gì buộc ta phải nghĩ rằng tác phẩm này chỉ dành riêng cho Thêôphilô. Đối tượng của Luca chắc là các Kitô hữu văn hoá hi lạp.

2. Những hoạt động hữu hình cuối cùng của Đức Giêsu (Cv1,2b-8)

❖ Đối tượng được nhắm tới: các tông đồ đã được Người tuyển chọn nhờ Thánh Thần (2b)

❖ Khoảng thời gian hoạt động: 40 ngày (3b)

❖ Nội dung hoạt động: - dạy bảo (2b)
- dùng nhiều cách chứng tỏ Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: hiện ra cho họ; nói với họ về Nước Thiên Chúa; ăn uống với họ (3 a-c)

❖ Lần gặp gỡ cuối cùng:
- Khung cảnh: trong một bữa ăn với các tông đồ (4a)
- Lệnh truyền cho các tông đồ phải ở lại Giêrusalem chờ đón nhận Thánh Thần (4b-5)
- Phản ứng của các môn đệ:
Vẫn còn ước mơ thế tục: “bây giờ là lúc khôi phục Israel?” (6)
- Điều chỉnh của Đấng Phục Sinh: thời giờ, hạn kỳ là thuộc quyền Cha, anh em không cần biết (7)

   Hứa: anh em sẽ nhận được sức mạnh Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em (8a)

 Trao sứ vụ: anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem... đến tận cùng trái đất (8b)

 Hoạt động chính của Đấng Phục Sinh trong 40 ngày gồm 2 việc:

* Chứng tỏ cho các tông đồ xác tín rằng Người vẫn sống bằng cách: làm cho họ được thấy Người; Nói với họ về Nước Thiên Chúa; ăn uống với họ (c. 4)

* Chuẩn bị họ đón nhận Chúa Thánh Thần và trao sứ mạng.

Vẫn sống: tin Đức Giêsu phục sinh không có nghĩa là lý trí chấp nhận một sự kiện khách quan diễn ra vào một thời điểm, nơi nào đó trong dòng lịch sử. Tin là thiết đặt một tương quan vĩnh viên với Đức Giêsu:

“NGƯỜI ĐANG, VẪN, HẰNG SỐNG và đang điều khiển vũ trụ, lịch sử, đời tôi với quyển năng của một vị Thiên Chúa. Đây là xác tín nền của đức tin Kitô giáo,

Nước Thiên Chúa: Vương quyền của Thiên Chúa và những gì nói ở c.8 sẽ là chủ đề chính của sách Công vụ. Nước Thiên Chúa đã được khai mạc với Đức Giêsu. Người đã thiết lập nên tảng là các tông đồ, đã ban hiến chương và sắp ban Thánh Thần. Đã tới lúc các tông đồ phải tiếp tục công việc làm phát triển Nước Thiên Chúa cùng với Chúa Thánh Thần và quyền năng của Đấng Phục Sinh. Xem them CGKPV Tân Ước. 1995. Trang 497 các nốt “d”, đ”, “e”)

Nhận lãnh Chúa Thánh Thần: Xưa với sự can thiệp của Chúa Thánh Thần, Ngôi Lời đã làm người, giờ đây thời Giáo Hội cũng được đánh dấu bằng hồng ân Chúa Thánh Thần: x. Sđd các nốt “g”, “h”)

Trước những dạy bảo trên, các phản ứng của tông đồ vẫn còn hết sức phàm tục mang đậm nét Mêsia chính trị, quốc gia chủ nghĩa (c.6)

Điều chỉnh của Đấng Phục Sinh: Trước khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, các tông đồ không sao hiểu nổi sứ điệp của Đấng Phục Sinh: việc Đức Giêsu sống lại vinh quang, việc nói về Nước Thiên Chúa kèm theo ân huệ Thánh Thần, ngay lập tức gợi dậy trong lòng các môn đệ tham vọng thế quyền chính trị. Đầng Phục Sinh phải điều chỉnh lại, đưa các môn đệ về lại sứ mạng hiện tại mà Người muốn trao phó cho họ: Đó là chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Chúa Thánh Thần để đi rao giảng làm chứng về Đấng Phục Sinh và loan Tin Mừng cho đến tận cùng thế giới. Câu 8 được xem như chương trình hành động của các tông đồ: khởi sự tại Giêrusalem lan dần ra các vùng phụ cận và đến tận cùng cõi đất.

Câu trả lời của Đấng Phục Sinh phân biệt biến cố ban Chúa Thánh Thần với biến cố Nước Thiên Chúa sẽ tỏ hiện trọn vẹn, vẫn còn là một bí nhiệm nơi Cha. Giai đoạn giữa hai biến cố này là thời của Giáo Hội với sự hỗ trợ của Chúa Thánh Thần.

3. Thăng thiên (Cv 1,9-11)

❖ Thời điểm: sau khi an bài mọi sự cho môn đồ “Nói xong”

❖ Mô tả sự kiện: “Người lên trời ngay trước mắt các ông (9a)
        Có đám mây rước Người lên khuất mắt các ông” (9b)

❖ Phản ứng của các tông đồ
      “…đăm đăm nhìn trời phái Người đi” (10a)

❖ Can thiệp thần linh đưa các ông về lại thực tại:
- Sự kiện: xuất hiện 2 người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh (10b)
- Đánh thức: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời?” (11a)
- Loan báo quang lâm (11b)

Biến cố lên trời được mô tả bằng những điểm tích Cựu Ước:

Người lên trời: “Trời” ở đây không là một nơi chốn. Theo quạn niệm xưa, vũ trụ có 3 tầng: - Trời là nơi ở của các thần linh – Đất là nơi con người sinh sống – và hoả ngục là nơi của tối tăm, sự dữ. Vậy “lên trời” là được đi vào cảnh vực thần linh. Từ nay một con người của trái đất này đã được hoàn toàn thông phần trọn vẹn vào vinh quang Thiên Chúa. Cửa Trời xưa đóng lại vì tội A đam, nay được mở ra cho nhân loại nhờ A đam mới. Lúc Đức Giêsu chịu phép rửa thì “trời mở ra”. Và giờ đây đã có một người trần như chúng ta, được vào Trời cả hồn lẫn xác.

Ngay trước mắt: Cách nói việc Elisa thấy Elia lên trời, nhờ vậy ông ta nhận được dồi dào thần khía của thầy mình và trở về hoạt động đầy quyền năng như thầy (x. 2V 2, 9-15). Vậy các tông đồ cũng sẽ đầy Chúa Thánh Thần của Đấng Phục Sinh và thi hành sứ vụ hiệu quả như Đấng Phục Sinh.

Và có đám mây: trong Cựu Ước, mây là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện, vừa là vật cản để mắt phàm không thấy được trực tiếp vinh quang Thiên Chúa kẻo phải chết. Câu 9b mô tả Đức Giêsu được đám mây rước lên hàm ý Đức Giêsu chính là Thiên Chúa; Nhưng cũng chính đám mây ấy lại che khuất không cho các ông thấy Người nữa: từ nay Đức Giêsu không còn hiện diện hữu hình với đoàn môn đệ nữa, Người đã chính thức mạc khải thần tính và đi vào vinh quang Thiên Chúa, thế giới thần linh, tuy nhiên đây chưa phải là lúc môn đệ chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa cách trọn vẹn vốn chỉ được tỏ lộ ngày quang lâm.

Hai ý ngĩa có vẽ trái ngược nhau đó của “đám mây” nhắc các môn đệ rằng hiện tại là thời họ phải ra tay hành động dưới sự bảo trợ của Đấng Phục Sinh là Thiên Chúa chờ ngày Người quang lâm, và đó cũng là cách họ góp phần cho ngày quang lâm mau đến. Từ nay Đấng Phục Sinh hiện diện với đoàn môn đệ bằng một cách thức huyền nhiệm: Vừa đầy quyền năng của một vị Thiên Chúa, vừa ẩn dấu khỏi mắt phàm các ông chờ ngày quang lâm.

Đăm đăm nhìn trời:  Bị cuốn hút, quên mất thực tại là phải về Giêrusalem chuẩn bị nhận lãnh Chúa Thánh Thần để dấn thân vào cái hiện tại trần thế đang cần  các ông. Đó là làm chứng nhân cho Đấng Phục Sinh chứ không làm “vọng phu hóa đá” ngước mắt nhìn trời.

Đánh thức đưa về thực tại:  Hình ảnh hai thanh niên mặc áo trắng gợi lại Lc 24, 4-9 trong trình thuật ngôi mộ trống. Qua câu hỏi “TẠI SAO”, hai chàng đã giải thích việc Đức Giêsu vắng mặt với giọng điệu có vẻ trách móc: yếu tin, tầm nhìn còn bị nhốt trong quá khứ, cái nhìn trần tục; Nhưng ngay sau đó đã mặc khải sứ mạng hiện tại phải làm: trở về với cuộc sống đi để làm chứng nhân. Bởi vì từ nay cuộc sống đã có ý nghĩa, dòng lịch sử đã có điểm tới rõ ràng: mọi sự là để dọn đường cho ngày quang lâm của Đấng vừa mới lên trời; Đó là lúc Đấng Thăng Thiên biều lộ vinh quang thần linh trọn vẹn cho toàn thế giới mà Thăng Thiên chỉ là khúc dạo đầu.

Trong khi chờ đợi quang lâm, giờ đây là thời môn đệ chính thức nhập cuộc, đích thân đảm nhận trách nhiệm loan báo Tin Mừng, trực diện đối đầu cùng bao thử thách với sự đồng hành vô hình nhưng đầy hiệu năng của Đấng Phục Sinh và sự trợ lực của Thánh Thần Thiên Chúa.

TÓM KẾT
Sau câu giới thiệu cho Thêôphilô về sách Công Vụ như là phần tiếp nối cuốn Tin Mừng thứ ba, bài đọc 1 thuật lại những hoạt động hữu hìnhcuối cùng của Đức Giêsu với tư cách là Đấng Phục Sinh để chuẩn bị cho các tông đồ bước vào giai đoạn cánh chung của lịch sử cứu độ mà không có sự hiện diện hữu hình của Đức Giêsu. Đó là giai đoạn Giáo Hội trực tiếp lãnh nhận trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Chúa Thánh Thần sắp được trao ban là ân huệ lớn nhất bảo đảm cho sự thành công của Giáo Hội trong sứ mạng  được trao phó. Sau cùng Đức Giêsu tỏ lộ vinh quang thần lình qua thăng thiên và loan báo quang lâm.

Vậy biến cố thăng thiên để lại nơi các tông đồ một sự trông chờ kép: trong hiện tại chờ Chúa Thánh Thần; trong tương lại, hướng về quang lâm. Ở giữa hai sự trông chờ ấy là sứ mạng loan Tin Mừng mà Đấng Phục Sinh đã trao phó. (Xem thêm sđđ 497 nốt “a”).
 

TIN MỪNG: Mc 16, 15-20

Văn mạch

Theo các nhà chú giải Kinh Thánh, Mc 16, 9-20 được thêm vào sau dùng làm đoạn kết thúc cho sách Tin Mừng thứ hai. Phần này không tường thuật mà chỉ liệt kê những lầ Đấng Phục Sinh hiện ra được thuật lại trong bài sách Tin Mừng kia, đặc biệt là của Luca và Gioan.

-    16,9-11 hiện ra cho Mađalêna nhắc lại Ga 20,11-18

-    16,12-13 ám chỉ 2 mộn đệ Emmau của Lc 24,13-35

-    16,14 hiện ra cho nhóm 11 và trách cứng tin là ám chỉ Lc 24,36-49 và Ga 20,19-29

-    16,15 sứ mạng được trao gợi lại lệnh truyền Mt 28,18-20

-    16,19 thăng thiên, nhắc lại Lc 24,50-53 và Cv 1,9-11

Điểm Marco muốn nhấn mạnh là lòng cứng tin của các tông đồ (cc.11.13.14b). Mặc dù khiển trách, Đấng Phục Sinh vẫn trao nhiệm vụ cho các tông đồ.

Bài đọc phụng vụ bỏ hết những chi tiết về việc hiện ra của Đấng Phục Sinh, về sự cứng tin của các tông đồ, chỉ sử dụng cc 15-20 nói về sứ mạng mà Đấng Phục Sinh trao cho các tông đồ, nói về những phương tiện kèm theo giúp các ông thực thi sứ mạng hiệu qủa, cũng như nói về kết quả có được tương ứng với thái độ đón nhận, tin hay không của các người nghe trước lời giảng dạy của các tông đồ. Bản văn kết thúc bằng một câu nói về Đấng Phục Sinh lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa; Và ngay tức khắc sau đó các tông đồ bắt tay vào việc. Quyền năng đồng hành với các ông là Đấng Phục Sinh.

CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH

1. Lệnh truyền cuối cùng của Đấng Phục Sinh trước khi về trời (Mc 16,15-18)

❖ Lệnh truyền giáo: Hãy... loan báo Tin Mừng
Tính phổ quát của lệnh truyền: - Đi khắp tứ phương thiên hạ
                                                     - Cho mọi loài thọ tạo (15)

❖ Báo trước thái độ của người nghe và hệ quả
- Có người tin: “Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ"
- Kẻ không tin: “Ai không tin thì sẽ bị kết án” (16)

❖ Lời hứa ban ơn kèm theo bảo đảm cho sự thành công của sứ mạng:
- Ban dấu kèm theo “những ai có lòng tin"
- Điều kiện để làm được dấu lạ: “nhân danh” Đấng Phục Sinh

Hãy loan TM: Trong các câu 9-14, điều Marco nhấn mạnh là sự cứng tin của các tông đồ. Cứng tin về điều gì? Không tin Người đã sống lại, không tin lời chứng của những người đã gặp Đấng Phục Sinh. Vậy Tin Mừng phải loan đi ở đây chính là việc Đức Giêsu đã chết, sống lại và đang sống; Đấng chịu đóng đỉnh thập giá chính là Thiên Chúa, và thập giá (đi trọn kiếp người) là cách Người biểu lộ quyền làm Chúa của Người (15,39). Thật vậy, điều này đã được Maco loan báo ngay từ đầu sách Tin Mừng của mình: “Khởi đầu Tin Mừng  Đức Giêsu  Kitô Con Thiên Chúa” (1,1). Trung tâm của Tin Mừng chính là Đức Giêsu và đặc biệt là thập giá và Phục sinh của Người. Tất cả các hệ quả tín lý, luân lý, phụng tự và thiêng liêng đều bắt nguồn từ xác tín cơ bản này: Nếu Đức Giêsu  đã không sống lại thì đức tin chúng ta thật là hão huyền và chúng ta vẫn còn sống trong tội của mình (1Cr15,17-19).

Tính phổ quát của sứ điệp Tin Mừng được nhấn mạnh: “đi khắp tứ phương thiên hạ” (dịch sát là “đi khắp vũ trụ”) và loan báo cho “mọi loài thọ tạo”.

Hai cách nói trên cho thấy Đức Giêsu chết và sống lại không chỉ là Tin Mừng cho con người mà còn là cho toàn vũ trụ, toàn thể tạo thành. Nơi Người Thiên Chúa đảm nhận toàn bộ công trình sánh tạo và đưa công trình ấy đến chỗ hoàn tất (x. Rm 8,19-22; Cl 1,15-23). Nơi nhân tính được tôn vinh của mình, Đức Giêsu đã quy tụ toàn thể tạo thành, tinh luyện và dâng lên Thiên Chúa, lúc ấy Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự (1Cr 15,24-28).

Đáp trả trước sứ điệp: TIN hoặc KHÔNG (16). Trong Mt 28,29, vai trò các tông đồ được nhấn mạnh: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ”; Còn Marco nhấn tới thái độ đáp trả của người nghe: “ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị kết án”. Thái độ của mỗi người trước Tin Mừng Đức Giêsu chết và sống lại sẽ quyết định số phận của họ. Trước sứ điệp này không có chọn lựa thứ ba. Điều này không có nghĩa là ai theo tôn giáo khác đều không được cứu, nhưng sứ điệp chính yếu là yếu tố căn bản quyết định vận mạng của mỗi người khi được nghe Tin Mừng là thái độ của mình trong tương quan với Đức Giêsu chết và sống lại: tin hoặc không. Theo tinh thần Gioan, tin vào Đức Giêsu  đồng nghĩa với thuộc về đàn chiên của Người (Ga,26), là đi vào trong mối hiệp thông thâm sâu với Người như Cây Nho với cành nho (Ga10,1 tt). Ở đây mối hiệp thông được biểu lộ bằng phép Rửa: khi đồng ý chịu phép rửa trong đức tin thì người nghe trở nên môn đệ và đi vào mối hiệp thông với Đức Giêsu và Thiên Chúa. Khía cạnh bí tích và Giáo Hội của mầu nhiệp hiệp thông được làm nổi bật: hiệp thông với Đức Giêsu là phải hiệp thông qua Giáo Hội và các bí tích.

Hứa ban các dấu lạ đi theo những ai có lòng tin: theo câu 17a thì những người làm được dấu lạ là “những ai có lòng tin” tức toàn thể tín hữu chứ không riêng gì các tông đồ. Những dấu vết còn lại trong Tân Ước xác nhận cách hiểu trên: - Ơn làm phép lạ, chữa bệnh ban cho 1 số người không phải là tông đồ (1Cr 12,28-29); - Ơn này đôi khi còn ban cả các môn đệ không công khai nữa (Mc 9,38-40); - Phaolô và Banaba cũng làm được nhiều dấu lạ (Cv 14,3.8-10...); - gia đình Cornêliô cũng nói được các tiếng lạ như các tông đồ (Cv10,44-46); - cũng có nhiều phép lạ xảy ra trong giáo đoàn Galat (Gl 3,5)...

Còn các dấu lạ được liệt kê trong Mc 16,17b-18 cũng đã thấy xảy ra trong Giaos Hội tiên khởi: - Phaolô trừ quỷ (Cv16,18); - Rắn độc không làm hại được Phaolô (Cv 28,3-5); - nói tiếng lạ: nhóm 11 (Cv 2,3-11), nhà Cornêliô (Cv 10,44-46), nhóm môn đệ ở Êphêsô (Cv 19,6), những người Côrintô (1Cr 14) và chính Phaolô nữa (Cv 14,18); - Việc chữa lành: Khanania đặt tay chữa lành cho Phaolô (Cv 9,12-17), Phaolô chữa lành cho cha của quan đứng đầu đảo Manta (Cv 28,8), kể cả cho người chết sống lại (Cv 20,7-12). Liên quan tới thuốc độc: Theo lời Papias thì ông Giustô, từng tranh cử với Matthias để thế chỗ cho Giuđa trong Cv1,23, “đã uống phải thuốc độc nhưng không bị khó chịu chút nào nhờ ơn của Chúa” (Eusêbe, hist – Eccl III,39. x. chú giải PA Chúa Nhật, các mùa B, lễ Thăng Thiên).

Có lẽ Mc 16,17-18 được soạn thảo dựa trên những sự kiện thật đã diễn ra trong các Giáo Hội; và đối với tâm thức của nhũng người đương thời thì đó là những dấu chỉ giúp họ nhận ra quyền năng cứu độ của Đấng Phục Sinh. Với chúng ta hôm nay các dấu lạ kiểu đó không là điều chính yếu nữa. Sứ điệp cho chúng ta có lẽ là: Đấng Phục Sinh với quyền năng thần linh vượt trên mọi sự dữ, Người luôn đồng hành với đoàn môn đệ và như thế không thế lực nào giựt được đoàn mộn đệ ra khỏi bàn tay cứu độ của Người. Thật vậy ngày nay, cho dù phận loài người yếu đuối, mưu mô quỷ dữ giăng đầy, khó khăn, tai họa, bách hại luôn rình rập... nhưng quyền năng phục hồi, chữa lành, thông hiểu của Đấng Phục Sinh luôn bao bọc đàn chiên qua Giáo Hội, bí tích, ân sủng, Lời Chúa, gương sáng... nhờ đó tín hữu mọi thời đều có cơ may được chữa lành, được gặp Đấng Phục Sinh, gặp Thiên Chúa và được ơn cứu độ.

Nhân danh Thầy: phải làm mọi sự trong tư cách là người của Đấng Phục Sinh, chúng ta chỉ là đại sứ của Người. Chính DANH Người mang lại ơn cứu độ. Chúng ta chỉ có thể “nhân danh Đức Giêsu” khi lời nói, hành vi, tư tưởng chúng ta diễn tả trung thực sứ điệp của Người. Phải thường xuyên tiếp xúc với Lời Chúa, với Chúa qua Giáo Hội và các phương tiện bí tích, ân sủng Chúa ban để có thể làm được “dấu lạ”. “Dấu lạ” lớn nhất của mọi thời nay là hoán cải lòng người, giựt tội nhân khỏi tay quỷ dữ, mang lại sự sống thần linh, ơn cứu độ cho toàn nhân loại. Đó không phải là làm phép lạ, chữa lành, trừ quỷ... cho thế giới hôm nay đó sao! Mỗi tín hữu hãy là trung gian để Thánh Thần và Đấng Phục Sinh hành động.

2. Thăng Thiên (Mc 16,19)

❖ Nói xong, Chúa (KURIOS) Giêsu được đưa lên trời 

❖ Và ngự bên hữu Thiên Chúa.

KURIOS : tên của ĐỨC CHÚA dưới dạng tiếng hy lạp. Tin Mừng Macco chỉ gán danh hiệu này cho Đức Giêsu hai lần: - Khi Đức Giêsu sai hai môn đệ đi dắt con lừa con về để Người cỡi vào Giêrusalem: “CHÚA” cần đến (Mc11,3); - và ở đây 16,19. Và cả 2 lần đều liên quan đến việc khai mở một triều đại mới: Sau lần vào Giêrusalem được tung hô như Mêsia, thì Đức Giêsu khai mở triều đại Thiên Chúa qua thập giá. Thật vậy thấy Đức Giêsu chết như vậy, viên sĩ quan Rôma tôn vinh Người là Con Thiên Chúa (15,39); và ở đây 16,19, sau tước hiệu CHÚA, Đức Giêsu lên ngự bên hữu Thiên Chúa khai mạc triều đại “chúa quyền” (Souveraineté) vĩnh cửu của Người. Ý tưởng trên được Marco diễn tả qua 2 hình ảnh:

Được đưa lên trời: “trời” là nơi Thiên Chúa ngự, là nơi ở của thần linh (x. chú giải bài 1 ABC). Vậy với thăng thiên, Đức Giêsu được thông hiệp vào cảnh vực thần linh. Từ nay nhân loại đã có được một thành viên với nhân tính trọn vẹn được bước vào quỹ đạo thần linh của Thiên Chúa cách hoàn hảo và vĩnh viễn.

Ngự bên hữu Thiên Chúa: Hình ảnh mượn từ Tv 110,1. “Bên hữu Thiên Chúa” là vị trí vinh dự và ngồi bên hữu là dấu chỉ được thông chia quyền bính. Mt 26,64-65 đã dùng Tv110,1 này và phối hợp với Đn 7,13 để mặc khải thiên sai tính thần linh của Người. Cũng dựa trên thánh vịnh này mà Phêrô, theo Cv 2,34-36 sẽ công bố trong ngày Ngũ Tuần: “Thiên Chúa đã đặt Người làm Chúa và làm Kitô”. Nghĩa là từ nay nơi nhân tính của Đức Giêsu, vinh quang thần linh thiên tính được tỏ lộ trọn vẹn, nói cách khác, từ nay lịch sử cứu độ sẽ được lật tới trang cuối, triều đại “chúa quyền” được khai mở: nhân tính là nơi mặc khải thiên tính cách trọn vẹn và vĩnh cửu, hoàn tất và hoàn chỉnh ơn gọi “con người là hình ảnh TC”.

Vậy với Marco, Thăng Thiên không phải là cuộc ra đi của Đức Giêsu, mà là cuộc đăng quang “chúa quyền” trên vũ trụ, khai mở triều đại mới. Chính  vì thế mà ngay sau thăng thiên đăng quang của thủ lãnh Giêsu là NGAY LẬP TỨC các “cán bộ” của Người vào cuộc ngay để làm lan rộng triều đại chúa quyền trên toàn vũ trụ.

3.  Ngay lập tức lên đường (Mc 16, 20)

❖ Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi

❖ Có Chúa (KURIOS) cùng hoạt động
Và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng

Là các cán bộ nòng cốt của triều đại chúa quyền, các tông đồ ngay lập tức lên đường thi hành sứ mạng mà không nói gì tới Thánh Thần. Macco chỉ chú trọng đến chúa quyền của Đấng Phục Sinh. Thật vậy Đức Giêsu không hiện diện với các tông đồ nữa, nhưng bù lại là có CHÚA, Đấng đang ngự trên trời với toàn bộ quyền năng thần linh, cùng hoạt động với các ông. Khi thăng thiên khai mạc chúa quyền, Đấng Phục Sinh chẳng những khai mạc lời đã hứa trong cc.17-18 mà Người còn đích thân hoạt động bên trong con người khiêm cung yếu đuối của các tông đồ mọi thời: nhân tính đã được tôn vinh làm CHÚA của Đức Giêsu và nhân tính còn lữ hành của tín hữu cùng hợp tác để đưa chúa quyền của Đấng Phục Sinh đến chỗ mau hoàn tất.

Việc các tông đồ ngay tức khắc thi hành lệnh cũng là 1 cách diễn đạt quyền Chúa của Đức Giêsu giống như Thiên Chúa Cha trong công trình sáng tạo: “Thiên Chúa phán_tức thì có”.

TÓM KẾT
Tin Mừng hôm nay tỏ lộ cho ta nhận biết “Chúa quyền” = Quyền Tối Thượng của Đấng Phục Sinh trên toàn thể vũ trụ:

- Người được trình bày như một Đấng Tạo Hóa đầy quyền uy, phán một lời là mọi việc liền có. Thật vậy lệnh truyền giáo trong cc.15-18 được các tông đồ thực thi ngay tức khắc khi Chúa vừa thăng thiên.

- Người được tôn xưng với danh hiệu CHÚA chỉ dành riêng cho Yavê.

- Và cao điểm của biểu lộ chúa quyền được diễn đạt qua một công thức đã được giữ lại và đưa vào kinh tin kính của chúng ta; “... lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa”. Với việc lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa, Đấng Phục Sinh đã đăng quang và khai mở triều đại chúa quyền chẳng những trên các kẻ tin mà còn trên toàn cõi vũ trụ trong mọi thời.

Với chúa quyền này, Đấng Phục Sinh đã đưa nhân tính của con người và toàn thể vũ trụ vào trong vinh quang thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa, khai mở một kỉ nguyên đưa tới thực tại Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.

 

Pet. Đình Long, FSC