CHÚA NHẬT V B MÙA CHAY
Gr 31,31-34; Ga 12,20-33
Chủ đề: Thời điểm lập Giao Ước mới đã đến; Giao Ước thứ tha


* Gr 31,31.34b: Này sẽ đến những ngày, Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Giuđa một Giao Ước mới… và sẽ không nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa.

* Ga 12,23.24b: Đã đến giờ Con Người được tôn vinh: Hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi mới sinh được nhiều hạt khác.

Chủ điểm phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật V B Mùa Chay là Giao Ước Mới. Một Giao Ước sẽ được thiết lập vào thời Chúa định; và Giao Ước này sẽ tạo nên tương quan nội tại bền vững giữa Thiên Chúa và con người. Thời điểm thiết lập Giao Ước đó tới rồi với Thập giá và phục sinh của Đức Giêsu.

Khi nói tới Giao Ước, người ta thường nghĩ tới một cam kết hai chiều, song phương giữa hai đối tượng muốn tạo liên hệ hỗ tương với nhau. Mỗi bên đều có quyền lợi và bổn phận phải chu toàn vì lợi ích của đôi bên. Bên nào vi phạm Giao Ước sẽ gánh chịu mọi hậu quả, phải trả lẽ tương xứng và có khi phải chết.

Nếu cứ tính theo lẽ công bằng, sòng phẳng theo tinh thần Giao Ước pháp lý thì mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người đã phá sản từ lâu và con người đã bị hủy diệt vì bao lần vi phạm Giao Ước. Tuy nhiên khi đề nghị kết Giao Ước với con người, Thiên Chúa, Đấng Chủ động, đã không nhắm đến khía cạnh sòng phẳng mà Người nhắm đích đến là bằng mọi giá phải LIÊN KẾT NÊN MỘT với nhân loại. Chính vì thế những vi phạm nhất thời cục bộ từ phía con người không phá vỡ được dự tính yêu thương từ muôn đời của Thiên Chúa: thay vì lên án, tiêu diệt, Thiên Chúa chọn giải pháp kiên nhẫn giáo dục, thứ tha chờ phút giây con người hoán cải để Thiên Chúa hoàn tất dự Tính LIÊN KẾT NÊN MỘT của Người.

Lời Chúa hôm nay cho thấy tình yêu cuồng nhiệt của Thiên Chúa: Người THA THỨ, THA THỨ và THA THỨ… Và từng bước một, Thiên Chúa chuẩn bị cho một  Giao Ước quyết liệt, Giao Ước mới: không ký bằng văn tự khắc trên bia đá mà bằng ý định của Thiên Chúa được khắc ghi vào con tim nhân loại. Yếu tố được dùng để kết ước, về phần Thiên Chúa, là THA THỨ; Còn về phần con người là ĐÓN NHẬN ƠN THA THỨ CỦA NGƯỜI: Thiên Chúa mong đợi con người nhận ra sai lầm của mình, hoán cải rồi TRAO PHÓ TẤT CẢ CHO TÌNH YÊU THA THỨ CỦA THIÊN CHÚA. 

Bài đọc một thuật lại sấm ngôn của YAVÊ qua ngôn sứ Giêrêmia rằng Chúa sẽ ban cho Dân một Giao Ước mới với những đặc điểm như sau:

-    Không như Giao Ước cũ mang nặng tính luật lệ, pháp lý, đặt nền trên thưởng phạt theo luân lý. Giao Ước cũ đã bị cha ông người Do Thái hủy bỏ khi họ phạm tội vi phạm các điều khoản Giao Ước được khắc trên BIA ĐÁ.

-    Còn Giao Ước mới sẽ được ghi khắc trong TIM “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc sâu vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta”

-    Hệ quả là không cần ai dạy Dân phải giữ Luật nữa vì Luật đã được ghi trong con TIM mỗi người.

Vậy việc giữ luật không còn là một áp lực đến từ bên ngoài, thi hành luật không còn do sợ hãi án phạt; Nhưng từ nay giữ luật là một thái độ nội tâm phát xuất từ Tình Yêu đối với Luật Chúa. Luật không còn là những điều khoản phải giữ, mà trở thành máu thịt của Dân.

Tóm lại nền tảng của Giao Ước mới này là Tình Yêu tha thứ của Thiên Chúa. Chóp đỉnh của Tình Yêu tha thứ là THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU. Đó là điều mà Tin Mừng sẽ trình bày cho chúng ta. Thời điểm thiết lập Giao Ước mới đã đến; Và phương thế Thiên Chúa dùng để lập Giao Ước mới này là ĐƯỜNG THẬP GIÁ. Thật vây vào tuần cuối cùng trước lễ vượt qua của cuộc đời dương thế của mình, Đức Giêsu công bố: “ĐÃ ĐẾN GIỜ CON NGƯỜI được tôn vinh… nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,23-24).

“Mầu nhiệm Thập Giá”, “Hạt giống phải chết đi” đó là điều ai cũng sợ, muốn trốn tránh. Đức Giêsu là con người, cũng không tránh được tâm trạng ấy: “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến… Lạy Cha xin cứu con khỏi giờ này”. Tuy nhiên “tôn vinh Cha”, thi hành ý Cha vẫn luôn là lẽ sống, là ưu tiên chọn lựa số một của Đức Giêsu: Người xác định dứt khoát “nhưng chính vì giờ này mà con đã đến”, GIỜ THIẾT LẬP GIAO ƯỚC MỚI, Giờ của Thập Giá đã tới. Với Thập Giá, Thiên Chúa đã thứ tha, trên thập giá, Đức Giêsu đã lôi kéo mọi vật lên cùng Thiên Chúa: “…khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Phần Thiên Chúa, Người đã hoàn tất công trình tha thứ của Giao Ước mới. Và vì Đức Giêsu cũng là một CON NGƯỜI THẬT GIỐNG CHÚNG TA MỌI ĐÀNG, nên khi Người hoàn toàn tuân phục ý Cha thì Người đã thay mặt nhân loại đón nhận tình yêu tha thứ, luật tha thứ của Cha khắc ghi vào con tim nhân loại của Người. Giao Ước mới đã được ký kết trong Đức Giêsu. Phần còn lại của mỗi tín hữu là noi gương Đức Giêsu để Thiên Chúa ghi Giao Ước Chúa trong tim ta bằng cách THEO ĐỨC GIÊSU, PHỤC VỤ ĐỨC GIÊSU, Ở LẠI VỚI ĐỨC GIÊSU (Ga 12, 26). 



SUY NIỆM CHÚA NHẬT V B MÙA CHAY


“Hạt lúa gieo vào lòng đất… nếu chết đi nó mới sinh được nhiều hạt khác… Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,24-32).

Qua phụng vụ, Giáo Hội đang từng bước một tiến tới đỉnh đồi Golgotha của Đức Giêsu. Tuần sau là Lễ Lá, Đức Giêsu tiến vào Giêrusalem như một vị Quân Vương, nhưng là vị Vua, vị Mêsia của Thập Giá. Thật vậy, ngay sau giây phút nô nức của một “bầy đàn” đang hiểu lầm về vị Chủ Chăn của mình, giai đoạn tiếp theo là Tuần Thánh, Tuần Thập Giá. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã đón nhận Tuần Khổ Nạn ấy trong tư thế hoàn toàn chủ động: Người hiểu ý nghĩa của Nó, và Người đã biến đổi cây Thập Giá khổ hình thành cây Thập Giá cứu độ qua những gì Người thực hiện cho các môn đệ trong Thứ Năm Tuần Thánh.

Để dọn đường cho Tuần đại lễ trên và để giúp mỗi tín hữu thực sự cảm nghiệm trong chính bản thân mình, con đường cứu độ của Thập Giá. Tin Mừng hôm nay mời chúng ta chiêm ngắm Thập Giá tận trong ý định tiên khởi của Chúa Cha, được hé mở trong công trình sáng tạo: sự mục nát của hạt lúa giống là cội nguồn, là điều kiện thiết yếu để có được một vụ mùa phong nhiêu, mang lại no ấm, niềm vui, hạnh phúc cho nhân loại “nếu hạt lúa gieo vào lòng đất… mà chết đi thì nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Đức Giêsu nhắc lại mặc khải đó không phải chỉ cho các môn đệ và đám đông người Do Thái mà còn cho cả dân ngoại nữa (x.Ga 12,20-21). Mặc khải đó lại còn được Đức Chúa Cha chuẩn nhận qua cuộc thần hiện (x.Ga 12,28b). Qui luật sự sống của công trình sáng tạo (x.St 1,11-12) đã bị nhân loại sa ngã nhìn một cách sai lạc nên tưởng rằng việc đem hạt giống gieo vào lòng đất là mất đi, là thiệt thòi nên thay vì gieo giống thì lại trữ kín trong kho, khiến sự mục nát của hạt lúa trở thành một sự hủy diệt mang lại thảm họa cho nhân loại: “ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất…” (12,25a). Một lời cảnh cáo ngược đời, khó nghe đối với những ai cứ khép kín lòng mình, tìm lợi ích riêng cho chính bản thân mình mà thôi. Nhưng đó chính lại là căn nguyên của mọi bất hạnh của nhân loại.

Đức Giêsu đến trần gian, đảm nhận phận làm người bất hạnh ấy nhằm mở ra trở lại con đường hạnh phúc chân thật là DÁM CHO ĐI, dám phục vụ, dám đem những hạt lúa chắc mẩy nhất gieo trồng rồi ra công làm việc… Khi ấy những hạt lúa đơn độc thay vì chỉ đủ nuôi sống được vài cá nhân trong một thời gian ngắn thì sẽ góp phần thành những vụ mùa phong nhiêu nuôi sống nhiều người, tạo phúc lộc dài lâu. Đó là hình ảnh báo trước hạnh phúc trường cửu vì đời này trăm năm đáng là bao: “…còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (12,25b).

Lưu ý: ở đây Đức Giêsu không nói ai ghét “sự sống của mình” mà nói “sự sống của mình trong thế gian”; Cách nói này đối lại với “sự sống đời đời”. Vậy Lời của Đức Giêsu hàm ẩn một CHỌN LỰA giữa cái mình đang có, đang nắm trong tay, đang là của mình: “sự sống trong thế gian”; Với sự sống tương lai mà mình chưa nắm được.

Cái đang nắm trong tay là “hạt giống đang nằm trong kho lẫm”, nó đang là của mình có thể nuôi sống mình bằng một bữa ăn. Nếu mình bám víu, quý nó đến độ không dám gieo nó làm lúa giống thì rốt cuộc nó cũng phải hư mất vì mục nát trong kho, hay vì được đem nấu làm một bữa ăn.

Còn cái “sự sống đời đời” là cái còn đang ngoài tầm tay của mình, nhưng theo định luật của công trình sáng tạo, thì “sự sống đó” chắc chắn đang ẩn tàng bên trong hạt giống. Nếu dám quăng hạt giống xuống ruộng đã được cày bừa thì sẽ có vụ mùa bội thu, hạt giống tiếp tục truyền sức sống của nó lâu bền.

Vậy “coi thường” hay “ghét” không có nghĩa là khinh chê, phủ nhận giá trị của “sự sống”, “mạng sống” mình trong hiện tại ở “trong thế gian” này mà là một lời mời hồi tâm nhìn vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa để nhận ra cái “dự tính từ muôn đời của Thiên Chúa” trong cái “mạng sống hiện tại giới hạn” của chúng ta rồi làm một CHỌN LỰA: hoặc cứ khư khư giữ lấy hạt giống (tức mạng sống trong thế gian) cho riêng mình để rồi hạt giống (mạng sống) đó sẽ qua đi không để lại dấu tích nào cho tương lai; hoặc chấp nhận GIEO HẠT GIỐNG xuống đám ruộng đã cày bừa sẵn sàng để rồi cũng chết đi nhưng rồi sẽ sinh nhiều hạt khác, sự sống của hạt lúa được trường tồn.

Đi đôi với bài Tin Mừng, bài đọc 1 được chọn nói về “GIAO ƯỚC MỚI”. Đây là một Giao Ước qua đó, Thiên Chúa tha thứ. Không xét nét bắt tội các lỗi phạm của dân nữa, bằng cách ghi khắc luật Chúa vào con tim của dân thay vì là những điều khoản ghi trên bia đá. Nhờ được nội tâm hóa Luật Chúa. Israen đích thực thể hiện được ơn gọi là “DÂN CHÚA”, dễ dàng hiểu biết và thực thi Lời Chúa không cần ai dạy dỗ nữa.

Việc nội tâm hóa Giao Ước, khắc ghi Luật Chúa vào tim đưa chúng ta đi vào tinh thần Mùa Chay. Thật vậy, Mùa Chay chủ yếu không phải là những hoạt động phải làm ở bên ngoài, mà là  LẮNG ĐỌNG NỘI TÂM, về lại với cõi lòng mình (xé lòng chứ đừng xé áo) để nhận ra tiếng Thiên Chúa đang gọi mời trong thẳm sâu của lòng mình. Quả thế, bài đọc 1 mặc khải: Giao Ước cũ được biểu lộ qua Mười Lời ghi khắc trong Bia Đá tại Núi Sinai , sẽ tới lúc Thiên Chúa ghi tạc vào con tim từng người của dân. Được nội tâm hóa, Giao Ước không còn là những điều khoản cứng ngắc pháp lý, áp đặt đến từ bên ngoài mà là một động lực nội tại thúc đẩy từ CON TIM  rộng mở nhận ra được Tình Yêu Thiên Chúa trên từng giây phút, từng ngóc ngách của cuộc đời mình. Giao Ước không còn là những ràng buộc đến từ một cam kết pháp lý mà trở thành một nguồn năng lực bên trong trào vọt lên từ tình yêu tự nguyện. Do đó, Giao Ước Chúa trở thành nhịp đập của con tim, lọc máu, chuyển máu sức sống Thiên Chúa đến mọi ngóc ngách của cơ thể, của cuộc đời để nuôi dưỡng toàn thân thể.

Nhờ Giao Ước mới do Đức Giêsu mang tới, nhân loại khám phá ra trở lại sinh lực của Thập Giá Thiên Chúa trong công trình Sáng tạo:  Hạt lúa phải chết đi, để sinh được nhiều hoa trái. Nền tảng của Giao Ước mới này là tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Trong bài đọc 1 : Chúa không còn nhớ đến tội của dân nữa; Chúa ghi khắc Luật Chúa vào tim của dân, để Luật Chúa trở nên máu thịt nuôi dưỡng con người. Trong bài đọc Tin Mừng; Đức Giêsu thể hiện Giao Ước đó qua thái độ đón nhận “Giờ được giương cao lên khỏi đất”; Chấp nhận làm hạt giống chịu mục nát để đem lại hoa trái dồi dào cho nhân loại.

BÀI ĐỌC 1: Gr 31, 31 – 34

Văn mạch 
 Gr 30 – 31 gồm một loạt những sấm ngôn miêu tả tương lại tươi sáng của dân Chúa; từ tình trạng trong hiện tại đang bị phân tán và khổ sở của kẻ lưu đày, xa xứ sở, họ sẽ được đưa về Palestin (Gr 30, 1-3.10), vận mạng, số phận được đổi thay:

Dân “sẽ là dân Ta chọn” và “Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi” (30, 18-24) sau khi đánh phạt răn dạy (30, 11-17). Thiên Chúa sẽ phục hồi dân và quy tụ lại quanh Sion (31, 1-12) trong những điều kiện hoàn toàn đổi mới: tang tóc sẽ không còn nữa, dân sẽ sống trong niềm vui lễ hội, được Thiên Chúa bao bọc an toàn (31, 13-23). Thiên Chúa hứa cứu dân (31, 24-28) và từ nay, Giêrêmia loan báo một nguyên tắc mới về thưởng phạt, không có chuyện phạt tập thể, nhưng mỗi người chịu trách nhiệm về hành vi của mình (31, 29-30). Và điều đổi mới lớn nhất là Thiên Chúa ban một Giao ước mới được ghi khắc trong tim mỗi người (31, 31-34). Israel sẽ tồn tại mãi (31,35-37). Giêrusalem sẽ được tẩy uế, đổi mới để hiến dâng cho Thiên Chúa và sẽ tồn tại vĩnh viễn (3,38-40).

Bài đọc 1 là trích đoạn nói về Giao ước mới được Chúa hứa sẽ khắc ghi trong tim từng người. Đây là chóp đỉnh đạo lý thiêng liêng của Giêrêmia.


CẤU TRÚC và SUY NIỆM

1.  Giao ước mới (Gr 31, 31-33 abc)

A-Này sẽ đến những ngày- sấm ngôn của Yavê (31a)
B- Lập với nhà Israel và Giuđa (31b)
C- Một Giao ước mới (31c)
A’- Sau những ngày đó- Sấm ngôn của Yavê (33c)
B’- Ta sẽ lập với nhà Israel (33b)
C’- Đây là Giao ước (33a)
D- Đặc điểm của Giao ước mới (32)
    •    Không giống như Giao ước đã lập thời xuất Ai Cập
    •    Đã bị dân phá hủy dù Chúa vẫn là Chúa Tể của dân.


Lần đầu tiên và duy nhất trong Cựu Ước người ta nghe loan báo về một Giao Ước mới. Thời điểm để lập Giao ước này không được nói rõ ràng: “sẽ đến những ngày”, “sau những ngày đó”. Cách nói mơ hồ này ám chỉ ngày Yavê can thiệp thực thi dự tính của Người. Cách nói này hàm ý việc ban Giao ước, hồng ân cứu độ vượt xa mọi dự đoán, mơ ước của con người. Đó là ân huệ nhưng không được Thiên Chúa trao ban vào lúc thích hợp để phát sinh ân lộc lớn nhất cho con người. Tuy nhiên cách nói này cũng hàm ý điều Thiên Chúa thực hiện là chắc chắn có; Và với cái nhìn chung cuộc trong Đức Giêsu, chúng ta nhận ra đó là Giao Ước được Đức Giêsu trao ban trong Thập Giá của Người.

Đối tượng được nhắm tới: c.31b nói đến Israel và Giuđa; còn c.33b chỉ nói đến Israel. Giêrêmia bắt đầu thi hành sứ mạng (626) vào lúc miền Bắc đã mất nước và Giuđa đang dưới triều ông vua đạo đức Giosigiahu; Do đó lời sấm hồi phục ban đầu nhắm tới Israel phía bắc và người ta hy vọng rằng Giao Ước mới chính là cuộc canh tân tôn giáo thời Giosigiahu khởi phát từ năm 622, lúc khám phá ra phần nòng cốt của sách Đệ nhị luật. Nhưng rồi mọi sự lại qua đi và Giuđa cũng chịu chung số phận lưu đày như Israel, thì lời sấm này được đọc lại và hướng về toàn dân: Israel lẫn Giuđa.

Không giống như Giao Ước ta đã lập với cha ông chúng: Giao Ước nói đây là Giao Ước Sinai, đã biến Israel thành dân Chúa: họ không còn là đám nô lệ ô hợp nữa mà là dân thánh, tế tự, dân riêng của Thiên Chúa. Thế nhưng họ đã phá vỡ giao ước và điều này lập đi lập lại nhiều lần trong lịch sử dân. Có vi phạm thì có án phạt, và chóp đỉnh là lưu đày.

Sau lưu đày cũng còn những đợt canh tân như trong thời Etra và Nơkhemia (Nkm 8) nhưng rốt cuộc đâu vẫn vào đấy. Giao Ước cũ dựa trên trừng phạt đã thất bại. Cần một cái gì mới mẻ vượt hơn cấm đoán, đe dọa để giúp con người toàn tâm toàn trí lo tuân giữ luật Chúa. Đó là điều mà Chúa muốn thực hiện trong Giao Ước mới.

2. Phương thức thiết lập và hoa trái của Giao Ước mới (Gn 31, 33d-34) 

► Thiên Chúa ghi khắc luật Chúa vào tim lòng của dân (33)

► Nối lại tương quan: “Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng còn chúng sẽ là dân Ta” (33d)

► Không cần ai dạy nhau học biết luật Chúa vì mọi người đều sẽ nhận biết Chúa: nhấn mạnh tương quan biệt vị, nội tâm.

► Nền tảng để lập Giao Ước mới: Lòng tha thứ của Thiên Chúa, không nhớ đến lỗi lầm của dân nữa.

Cho dù Giao Ước cũ hay mới, cả hai đều có cùng một mục đích: tạo mối tượng giao thân tình giữa Chúa và dân: “Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta”. Đối với Giao Ước cũ, mối tương giao trên được diễn tả ở Đnl 7,6; 14,2; còn đối với Giao Ước mới: Gr 24,7; 32,38; Ed 11,20; 36,28; 37,27. Điều mới mẻ là ở đường lối sư phạm: không còn là những áp lực đến từ bên ngoài với những ngăm đe thưởng phạt; nhưng từ nay Luật Chúa được ghi khắc trong TIM, nghĩa là được nội tâm hóa, làm nên như bản chất của mỗi người; do đó việc phải dạy bảo nhau sống Luật Chúa là không cần thiết nữa. Việc hiểu biết Thiên Chúa trở thành một tương quan biệt vị thâm sâu hơn là một mớ kiến thức hời hợt bị nhồi nhét do tác động của tập thể. Từ đó mỗi người phải chịu trách nhiệm về hạnh kiểm của mình và theo đó mà lãnh thưởng hay chịu phạt. Tuy nhiên không phải vì thế mà con người lên mặt kể công với Chúa, tưởng rằng tự sức mình đã làm mình nên hoàn thiện, mình đã nắm được Chúa trong tay. Thật ra tất cả đều là hồng ân, hồng ân nhưng không của Thiên Chúa…

Nền tảng của Giao Ước mới: đó là lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Từ khi thua mưu rắn, con người có khuynh hướng nghiêng về đàng tội đến độ sau này, một vị thánh đầy nhiệt tâm như Phaolô mà còn phải than rằng: điều dữ tôi không muốn làm mà tôi lại cứ làm (Rm 7,19)... Do đó nếu dựa trên công bình sòng phẳng thì con người không hy vọng gì tồn tại trước sự thánh thiện công minh của Thiên Chúa. Do đó, nền tảng của Giao Ước mới là lòng quảng đại luôn THA THỨ của Thiên Chúa, Người không nhớ đến lỗi lầm của dân nữa; Người xóa sổ làm lại từ đầu. Thiên Chúa  thứ tha; con người chỉ còn một việc: mở lòng đón nhận ơn tha thứ đó và sống quãng đời còn lại với lòng biết ơn. Và chính lòng biết ơn này thúc đẩy con người tuân hành thánh ý Chúa được tỏ bày qua luật. Luật không còn là gánh nặng nữa, mà là cách thức giúp con người tỏ lộ lòng biết ơn đối với tình yêu thứ tha của Thiên Chúa. Động lực của giữ luật chính là lòng mến. Đó chính là cách Chúa ghi Luật Người vào con tim chúng ta. Việc giữ luật là hoa trái của lòng tha thứ của Thiên Chúa và của lòng biết ơn của con người. Không ai dạy được điều này mà mỗi người phải cảm nhận bằng một tương quan biệt vị.

3. TÓM KẾT
Thiên Chúa luôn trung tín với ý định cứu độ của Người, được biểu lộ tỏ tường qua các lời hứa và giao ước, và Người tìm đủ mọi cách để thực hiện dự tính đó, dù phía con người lắm phen cứng lòng, bội phản. Thiên Chúa luôn đi bước trước đến đề nghị kết ước, rồi canh tân giao ước. Thất bại của giao ước Sinai, do những vi phạm của dân Chúa, chẳng những không cản trở tình yêu của Thiên Chúa mà còn thúc đẩy Người đưa ra những sáng kiến ngày càng tuyệt vời, bất ngờ hơn để đưa nhân loại vào đường cứu độ: Nét mới mẻ của giao ước lần này được Giêrêmia loan báo là LUẬT CHÚA ĐƯỢC GHI KHẮC TRONG TIM MỖI NGƯỜI. Trách nhiệm cá nhân được đề cao; không ai có thể nói tôi không biết luật Chúa, chẳng ai dạy cho tôi đường lối của Người: nhấn mạnh tương quan biệt vị, giữ luật phát xuất từ con tim chứ không vì ép buộc.

Với giao ước mới này, mặc dù con người vẫn còn bị chi phối bởi tội, nguy cơ đi lệch đường Chúa vẫn còn, cơ chế pháp lý bên ngoài vẫn cần phải có; Nhưng con người đã nhận ra được căn nguyên của tội là con tim xa cách Chúa, căn nguyên của ơn cứu độ là tình yêu tha thứ nhưng không của Thiên Chúa. Vấn đề còn lại là hãy để Thiên Chúa ghi khắc Luật Chúa vào con tim của mình. Giao ước mới đó chính là Đức Giêsu. Đó là cách Thiên Chúa khắc ghi vào con tim nhân loại Thánh Ý thần linh của Người. Mùa Chay mời đổi mới tương quan: giữ luật phát xuất từ con tim, vì yêu chứ không do bị ép buộc vì sợ.

 

TIN MỪNG: Ga 12, 20-33

Văn mạch
Tin mừng thứ 4 mở đầu sứ vụ Đức Giêsu bằng một tuần lễ khai mạc giới thiệu Đức Giêsu. Người là Đấng sáng lập, khai mạc nhiệm cục mới đến thi hành ý Cha giữa lòng đời. Chóp đỉnh của tuần này là dấu lạ hóa nước thành rượu trong một tiệc cưới tại Cana. Và Tin mừng thứ 4 cũng kết thúc bằng một tuần lễ, tuần xoay quanh biến cố thập giá và phục sinh hoàn tất ý nghĩa của dấu chỉ hóa nước thành rượu trong tuần khai mạc: với biến cố phục sinh, nhân tính Đức Giêsu được biến đổi tận căn, được tôn vinh làm CHÚA. Tuần cuối cùng gồm có:

- Sáu ngày trước Lễ Vượt Qua (12,1), Maria xức dầu thơm cho Đức Giêsu (12,1-11) và ý nghĩa được tỏ lộ rõ: báo trước việc ướp xác mai táng Đức Giêsu (12,7).

- Hôm sau Đức Giêsu long trọng vào thành Giêrusalem như là Đấng Mêsia (12, 12-19).

- Trong dịp này, qua hình ảnh hạt lúa gieo xuống phải mục nát để sinh hạt, Đức Giêsu đã ban cho môn đệ một giáo huấn về thập giá và phục sinh nhân dịp các người tân tòng Do Thái giáo gốc Hy Lạp đi hành hương vào dịp lễ này muốn gặp Người (12, 20-36).

- Trình thuật kết thúc sứ vụ công khai của Đức Giêsu giữa công chúng là một tổng kết thành quả của sứ vụ Người: họ không tin Người (12, 37-50).

- Sau đó Đức Giêsu rút lui về sống với các môn đệ 3 ngày cuối của tuần thập giá và phục sinh: Tiệc ly, rửa chân (13-17); Thương khó (18-19); Phục sinh và hiện ra (20-21).

Tin mừng hôm nay là trích phần đầu (12, 20-30) của bài giáo huấn đáp lại yêu cầu được xin gặp của nhóm tân tòng Hy Lạp. 

Đức Giêsu đang tiến vào Giêrusalem lần cuối cùng trong cuộc sống trần thế của Người. Đức Giêsu biết trước rằng lần này Người phải chết (x.Ga 12,7). Trong khi đó người ta vẫn cứ ngộ nhận vai trò Mêsia và cách thức thi hành sứ mạng của Người: từ dân (12,13) đến môn đệ (12,16) kể cả nhóm Pharisêu (12,19). Cuộc rước lá đón tiếp Người là chóp đỉnh của ngộ nhận. Cần phải chặn đứng ngay sự hiểu sai lạc này. Và Đức Giêsu, nhân dịp các người Hi Lạp muốn THẤY (động từ ôrao) Người, Người đã bày tỏ ý định thâm sâu của Thập Giá, của việc Người được tôn vinh, cụ thể là Người phải chết cách nào để biểu lộ vinh quang Mêsia của Người (12,33). Điều đó là Thánh ý Chúa Cha và Tin Mừng Gioan nhấn mạnh Cha đã chuẩn nhận bằng một cuộc thần hiện công khai cho mọi người có mặt đều thấy và được Đức Giêsu giải thích rằng sự kiện xảy ra đó là cho đám đông có mặt ở đó (12,30b). Sự hiện diện và các ước nguyện gặp Chúa của người Hi lạp được Tin Mừng Gioan lồng vào trong khung cảnh như thế.

► Các người Hi lạp đó là những ai? Họ là những người dân ngoại không chịu phép cắt bì, nhưng họ có cảm tình và gắn bó với Do Thái giáo qua việc gìn giữ một vài tập tục Do Thái, được Do Thái xếp vào hạng người “kính sợ Thiên Chúa” (x.Cv 10,2.22.35;13,16,26). Họ tin vào tôn giáo độc thần của Do Thái giáo và sống đoan chính. Họ đến Giêrusalem là để hành hương và trong thâm tâm họ cũng muốn thực tâm đi tìm chân lý (x.Chú giải Phúc Âm Chúa nhật 5B, các mùa… trang 372). Với lòng tin của họ vào Do Thái giáo, chắc chắn họ cũng biết ít nhiều trên lý thuyết về Đấng Mêsia. Giờ đây cơ hội thuận tiện đến, Người đang ở Giêrusalem vào dịp lễ.

CẤU TRÚC và SUY NIỆM

1. Bối cảnh của lời giáo huấn: khát vọng của người Hy lạp (Ga 12,20-22)

►  Khung cảnh: sắp đến lễ Vượt Qua, ngày thứ hai của tuần thập giá và phục sinh.

►  Sự kiện: các người Hy lạp lên dự lễ muốn gặp Đức Giêsu.

►  Cách thực hiện: nhờ trung gian Philipphê và Philipphê nói lại với Anrê rồi cả hai đến thưa với Đức Giêsu.

Để hiểu rõ hơn đoạn văn này, cần nắm bắt bầu khí diễn ra trước đó. Cái nhìn chung, ta nói trong văn mạch. Hôm xảy ra câu chuyện xin gặp này là ngày Đức Giêsu tiến vào Giêrusalem và được đón long trọng, đó là ngày thứ hai trong tuần cuối cùng, sau ngày Maria xức dầu nơi chân Chúa Giêsu báo trước ngày liệm xác. Vậy cái vinh quang của cuộc vào thành phải được đọc dưới ánh sáng thập giá. Đức Giêsu "vua Israel" như dân chúng tung hô (12,13) phải là Vua thập giá. Đối với Tin Mừng thứ 4, cuộc tiếp rước long trọng này là tột đỉnh ngộ nhận của đám đông dân Do Thái; và Đức Giêsu đã âm thầm điều chỉnh sự ngộ nhận này bằng cách Người ngồi trên lưng lừa sau khi dân chúng hoan hô, chứ không phải ngay từ đầu như trong Tin Mừng Nhất Lãm. Hành động này là để cho dân chúng thấy Người không có kỳ vọng chính trị nào: qua việc cỡi lừa, Đức Giêsu nói Người là vị quân vương khiêm hạ, an bình mà Dcr 9,9-10 đã tiên báo. Điều Đức Giêsu theo đuổi là vinh quang thập giá. Ngay cả với các môn đệ, chỉ sau khi Đức Giêsu phục sinh họ mới hiểu biến cố hôm nay (Ga 12,16)

Thái độ điều chỉnh kín đáo của Đức Giêsu không đủ xóa đi sự ngộ nhận: dân chúng tiếp tục tung hô đến độ biệt phái phải nổi điên lên cũng vì ngộ nhận: “Kìa THIÊN HẠ theo ông ấy hết" (Ga12,19). Câu nói của nhóm biệt phái hàm ý “cả vũ trụ” “thế giới” KOSMOS đều theo Đức Giêsu . Cũng như lời của Caipha trong Ga 11, 50-51, lời các biệt phái ở đây có giá trị như một lời tiên tri, dù họ không ý thức, báo trước ơn cứu độ do thập giá Đức Giêsu mang lại có tính phổ quát. Chính trong khung cảnh đó mà các người Hi lạp đến xin gặp Đức Giêsu.

Vậy việc các người hi lạp xuất hiện ở đây “để thờ phượng Thiên Chúa” và xin gặp Đức Giêsu là một cao điểm trong cơ cấu văn chương và thần học của Ga 11-12: nó cho thấy chương trình cứu độ phổ quát vượt qua bên kia biên giới dân Do Thái, bắt đầu được thực hiện. “Giờ” thập giá vinh quang bắt đầu! Khi thập giá của Đức Giêsu đã được giương cao thì mọi kỳ thị phải được dẹp bỏ.

Họ nhờ Philipphê... ơn gọi qua trung gian để thấy, gặp và nên môn đệ Đức Giêsu là một chủ để quen thuộc của Tin Mừng thứ 4 (1,19-51).

Chúng tôi muốn thấy ông Giêsu: nếu chỉ để nhìn thấy thì không cần đến trung gian Philipphê và Anrê. Nhưng sau khi nhờ trung gian thì “THẤY” là bước đầu dẫn tới đức tin (x.1,39 và 20,8). Thế giới lương dân đã không biết đích thân con người Đức Giêsu, nhưng chỉ qua lời rao giảng của các tông đồ: họ “thấy” Đức Giêsu nhờ Tin Mừng đã được công bố cho họ.

2. Đáp trả của Đức Giêsu: bày tỏ vinh quang thập giá (Ga 12, 23-33)

2.1. Cho các môn đệ (Ga 12, 23-27a)

►  Mặc khải “giờ Con Người được tôn vĩnh đã đến” (23)

►  Cách thức tôn vinh: thập giá và phục sinh được minh họa qua hình ảnh hạt lúa được gieo xuống phải chết đi để trổ sinh hoa trái dồi dào (24)

►  Bài học ứng dụng cho môn đệ: “Ai quý chuộng...sự sống đời đời”(25)

►  Mời gọi theo Thầy và phần thưởng: “Ai phục vụ Thầy...Cha sẽ quý trọng người ấy” (26)

►  Tâm trạng Đức Giêsu trước thập giá, “giờ”: xao xuyến (27)

“GIỜ” của Đức Giêsu chính là giờ Người trở về bên cạnh Cha (13,1) ngang qua thương khó, phục sinh và thăng thiên. Qua các biến cố này Cha và Con cùng được tôn vinh, nghĩa là nhờ các biến cố này nhân loại, vũ trụ được cứu và nhận ra được tình yêu, quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa.

Để minh họa cho con đường biểu lộ vinh quang thần linh qua thập giá và phục sinh. Đức Giêsu đã dùng một hình ảnh nông nghiệp: hạt lúa gieo xuống phải chết đi thì mới sinh bông hạt dồi dào. Với mầu nhiệm nhập thể, vinh quang thần linh tạm thời ẩn dấu sau nhân tính. Lời dạy uy quyền và các dấu lạ của Đức Giêsu chưa đủ bộc lộ hết vinh quang đó. Chỉ qua thương khó, thập giá vinh quang này mới được mặc khải viên mãn: cũng như hạt lúa phải nứt vỏ rồi chết đi, tan đi thì mầm sống mới mới bừng lên mãnh liệt; cũng vậy, một khi cái vỏ nhân loại bị vỡ đi, thì thiên tính như được giải phóng sẽ tràn ngập nhân tính của Đức Giêsu làm cho nó sống lại và thăng thiên.

Bài học cho môn đệ là hãy có thái độ như Thầy là đừng bám víu vào sự sống trần thế này, dám chịu mục nát như hạt giống thì mới có được sự sống đời đời (c.25)

Phục vụ Đức Giêsu có nghĩa là thực hiện trọn vẹn, tốt đẹp những gì Người mong muốn, là đi theo Người, làm môn đệ Người. Đây chính là cách thức để hạt giống chết đi để đạt được vinh quang (Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó), và được đi vào tương quan thân tình với Cha, được Cha quý trọng.

Tóm lại, thoạt nhìn qua, Đức Giêsu như không trực tiếp trả lời yêu cầu của những người Hi lạp. Thật sự Người đưa ra câu trả lời rất sâu xa: để loài người có thể gặp Đức Giêsu, được cứu độ, Con Người phải được tôn vinh, nghĩa là đi qua cuộc thương khó, trải qua cái chết để vào hưởng vinh quang Người đã có trong Chúa Cha. (CGKPV “Kinh Thánh Tân Ước” 2008; trang 417, nốt “n”)

Thêm nữa, việc “hạt lúa được gieo vào lòng đất, rồi phải chết đi thì mới sinh được hoa trái dồi dào”, đó chính là qui luật sự sống được Thiên Chúa đặt ngay trong công trình sáng tạo. Đó là công trình của Thiên Chúa trong ngày sáng tạo thứ ba được St 1, 11-13 nói tới: Trong Ga 12, 24, Đức Giêsu đã dùng hình ảnh “hạt lúa phải chết đi này” để diễn tả mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh của Người.

Như vậy trong dự tính tiên khởi của Thiên Chúa, “Thập giá và Phục Sinh”đã là qui luật sống và phát triển mà Thiên Chúa đặt để trong công trình sáng tạo. Và Thiên Chúa đã ban cho con người quyền “bá chủ vũ trụ” (St 1, 26), đồng thời cũng trao ban cho con người nhiệm vụ gìn giữ, canh tác đất đai để cộng tác với Chúa đưa vũ trụ này tới mức hoàn chỉnh như ý Chúa (St 2, 5-15).

Và cho dù về sau, con người có sa ngã đến đâu đi nữa thì Thiên Chúa vẫn bảo tồn qui luật sống “gieo trồng gặt hái” của công trình sáng tạo làm nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của vũ trụ (x. St 8,22).

Vậy “hạt lúa phải chết đi...”, tức Thập Giá và phục sinh trong công trình Sáng Tạo, nay được Đức Giêsu hồi phục lại ý nghĩa: là qui luật sống cho vũ trụ.

Nhưng con người đã sa ngã, chống lại dự tính của Thiên Chúa, muốn tích lũy gom góp tất cả về cho mình...nên việc gieo hạt, chấp nhận hạt phải chết đi trong lòng đất...trở nên một mất mát, đe dọa làm con người sợ hãi, tưởng rằng cái gieo xuống, chết đi đó là TAI HỌA. May thay Đức Giêsu đã phục hồi tất cả nhờ cái chết Thập Giá và phục sinh của Người.

2.2. Cho đám đông dân chúng (Ga 12,27b-33)

►  Cuộc thần hiện (27b-28):
-    Lời cầu nguyện tuân ý Cha: “Lạy Cha…xin tôn vinh danh Cha” (27b)
-    Tiếng đáp từ trời: “Ta đã tôn vinh danh Ta và còn tôn vinh nữa” (28)

►  Phản ứng của đám đông vì họ nghe được tiếng nói (29a): có người cho là tiếng sấm; người khác: tiếng một thiên sứ nói với Đức Giêsu.

►  Mạc khải của Đức Giêsu:
-    Tiếng đó là cho dân
-    Ý nghĩa của tiếng đó: giờ phán xét thế gian đang diễn ra; thủ lãnh thế gian sắp bị tống ra ngoài; Giờ Đức Giêsu được giương cao để kéo mọi người lên với Người. Đức Giêsu muốn nói về cái chết của Người.

Mặc dù biết rõ ý nghĩa của thập giá là tôn vinh Cha và Con, Đức Giêsu vẫn hãi sợ trước cái chết. Đó là thân phận phàm nhân mà Đức Giêsu đã muốn đảm nhận tới cùng.

Lời nguyện cầu với Cha, một lần nữa tỏ rõ rằng giờ thập giá là cùng đích của đời trần thế của Đức Giêsu: “vì thế mà Con đã đến để qua giờ này”;Và đó cũng là cách thức để tôn vinh Danh Cha.

Lời đáp từ trời xác nhận lời cầu xin của Đức Giêsu. Lời này là để đám đông nghe hầu đưa họ vào huyền nhiệm thần linh của con đường thập giá. Lời giải thích sau đó của Đức Giêsu làm rõ nghĩa hơn lời cầu tôn vinh Danh Cha và Lời đáp từ trời.

Giờ phán xét thế gian: thập giá của Đức Giêsu là bản án phán xét thế gian vì khi giết Người, thế gian đã tự lên án chết cho mình vì đã hủy diệt nguồn sống của chính mình. Giờ luận phạt tới rồi, án luận phạt có rồi không cần tới tận thế. Tất cả tùy thuộc vào thái độ của ta đối với thập giá.

Đầu mục thế gian bị tống ra ngoài: theo 1 số bản văn “đầu mục thế gian” chính là Satan (Ep 2,2; 6,12). Với thập giá của Đức Giêsu, mọi quyền lực mưu mô của Satan bị vô hiệu hóa. Mỗi người có đủ khả năng, điều kiện chọn lựa vận mạng của mình.

3. TÓM KẾT
Việc dân ngoại đến xin gặp Đức Giêsu đã là dấu chỉ giúp Đức Giêsu nhận ra “Giờ” của Người đã đến”: giờ Cha Con được tôn vinh, giờ của thập giá và phục sinh, giờ vinh thắng trên các quyền lực thế gian.

Trong Tin Mừng thứ 4, việc Thiên Chúa được tôn vinh cũng như tôn vinh Đức Giêsu bao gồm một chuỗi biến cố: Khời đầu bằng thập giá, rồi tiếp đó chắc chắn là phục sinh và lên trời. Vấn đề cốt lõi nằm ở điểm khởi đầu là thập giá, vì nếu không có thập giá thì cũng không có phục sinh lẫn thăng thiên.

Vì thế mặc dù cũng sợ hãi trước thập giá, Đức Giêsu cũng ý thức rõ ràng chính vì thập giá mà Người đến trong thế gian; Và một khi được thập giá được dựng lên thì quyền lực của Satan và tay sai bị vô hiệu hóa, nhân loại được cứu và Thiên Chúa được tôn vinh. Đó là ý định của Cha được biểu lộ qua tiếng nói từ trời trong cuộc thần hiện.

Trong tương quan với bài đọc 1, Giao Ước được Giêrêmia loan báo, nay được thực hiện nơi thập giá Đức Giêsu.

 

Pet. Đình Long, FSC