Tin Chúa Quan Phòng - Chúa Nhật 12 Thường Niên Năm A

CHÚA NHẬT XII A THƯỜNG NIÊN
Gr 20,10-13; Mt 10,26-33
Tin Chúa Quan Phòng
Chủ đề: Hãy kiên trì phó thác cho Chúa trước những khó khăn, thử thách gặp phải trên con đường sứ vụ
* Gr 20, 11.13: YAVÊ hằng ở bên con… Người đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay phường hung bạo.
* Mt 10,28.30: Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác… vì ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi.
Chủ đề Chúa Nhật XI A là “mầu nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa. Chúa hoàn toàn chủ động, muốn chọn ai tùy ý Người. Mục đích của việc tuyển chọn là để “ý Cha thể hiện” và “cứu độ thế giới”. Vì thế người được chọn phải có tinh thần phó thác, phục vụ vô vụ lợi làm theo ý Chúa và vì lợi ích tha nhân.
Lời Chúa Mùa Thường Niên XII A tiếp tục hướng đến những con người đó, họ được gọi là SỨ GIẢ của Thiên Chúa: họ có thể là NGÔN SỨ - TÔNG ĐỒ - THỪA SAI hay đơn thuần chỉ là MÔN ĐỆ. Sứ mạng, số phận đầy thử thách của họ, cũng như thái độ phải có của họ trước thực tại phũ phàng ấy, chính là điểm nhấn của Lời Chúa hôm nay:
- Họ đã nhận sứ mạng của Thiên Chúa công bố cho mọi người ý định Thiên Chúa
- Sứ điệp thần linh họ công bố sẽ đem lại cho họ nhiều thử thách khó khăn
- Nhưng họ không được thinh lặng, họ phải nói, phải làm chứng và không vì sợ hãi mà chùn bước, dù phải hy sinh mạng sống.
- Họ dám đón nhận và làm tất cả mọi sự là vì họ xác tín: Chúa gọi họ, sai họ đi, đồng hành với họ, CHÚA LUÔN Ở CÙNG HỌ, ĐÓN NHẬN HỌ.
Bài đọc 1 là phần trích của lời tâm sự cuối cùng của Giêrêmia: ông thổ lộ với Chúa tâm trạng giằng co của mình trước những quyến rũ của ơn gọi do Chúa trao ban, nhưng cũng đầy khắc nghiệt khi phải thi hành sứ vụ trong thực tế. Vì sứ điệp Chúa trao cho Giêrêmia để nói cho một dân cứng đầu, cứng cổ chỉ toàn là những lời cảnh cáo răn đe: mở miệng ra là ông phải la to: “Bạo tàn! Phá hủy!” (20,8). Điều đó làm cho ông bị toàn dân chống đối, họ nhạo bang ông, ông trở nên trò cười cho thiên hạ (20,7b). Ông hờn giận Chúa đã trao cho ông một sứ mạng nghiệt ngã là nói lên sự thật phũ phàng cho những kẻ không hề muốn nghe các lời ngay chính đó. Ông trách Chúa đã làm khổ ông đến độ ông đã bị cám dỗ không làm theo lệnh Chúa nữa: “Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa (20,9a).
Bài đọc 1 nhấn mạnh đến những mưu đồ mà những bọn chống đối bày vẽ ra để hãm hại Giêrêmia.
- Họ mỉa mai, nhục mạ ông bằng cách gán chết cho ông một danh hiệu gian ác là “lão tứ phía kinh hoàng” vì cứ mở miệng ra là ông loan tai báo họa.
- Họ tìm cách bày mưu tính kế, tìm cách tố cáo ông, hy vọng ông sập bẫy để trả thù ông (20,10).
Tuy nhiên trước những ác ý của kẻ chống đối, trước những yếu đuối của thân phận làm người nơi bản thân ông, trước những đòi hỏi khắc khe của sứ vụ, Giêrêmia luôn tin tưởng phó thác vào Chúa (20,11-12).
- Ông tin Thiên Chúa luôn ở bên ông, phù trợ ông (20,11a)
- Ông tin Thiên Chúa Đấng thấu suốt tâm can sẽ xét xử công minh.
- Nên ông phó thác tất cả cho Chúa, tin Thiên Chúa can thiệp giải cứu ông.
Do đó dù thực tế trước mắt còn đầy cam go, ông vẫn dâng lời ca tụng Chúa với lòng tin không gì lay chuyển: chắc chắn Chúa cứu ông (20,13).
Số phận của Giêrêmia là mẫu số chung cho những người theo Chúa trong mọi thời đại. Thật vậy, Đức Giêsu giáo huấn cho các môn đệ cùng một nội dung:
- Trước tiên, Đức Giêsu trấn an các môn đệ “ĐỪNG SỢ!”. Đừng sợ cái gì? Đừng Sợ nói lên một cách công khai, minh bạch những gì đã được nghe Đức Giêsu dạy dỗ và truyền phải đi rao giảng.
- Tại sao Chúa phải trấn an như vậy? Vì sứ điệp của Đức Giêsu sẽ “lật tẩy” kẻ ác, khiến chúng chống đối và tìm cách hãm hại, kể cả giết chết các môn đệ.
- Tuy nhiên lý do chính yếu Đức Giêsu đưa ra để khích lệ các môn đệ “ĐỪNG SỢ” những kẻ chống đối là vì chúng chỉ giết được phần xác, chứ không thể nào đụng đến linh hồn các kẻ tin vào Chúa được.
Sau đó Đức Giêsu đưa các môn đệ sâu vào tương quan với Thiên Chúa:
- Hãy tin và kính sợ Chúa vì Người là chủ tể của sự sống cả hồn lẫn xác
- Vì Người là Thiên Chúa yêu thương, quan phòng: Người hằng lo lắng cho toàn vũ trụ cho đến từng chi tiết nhỏ: “tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi” (câu 30). Chắc chắn Người sẽ đưa vạn vật đến cùng đích Người muốn là ơn cứu độ.
Do đó, thái độ chung cuộc phải có của con người là gì? Đức Giêsu kêu mời TẤT CẢ MỌI NGƯỜI: “PHÀM AI” hãy TIN VÀO NGƯỜI, hãy trở thành người cộng tác với Người loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới.
Tất cả mọi sự, Thiên Chúa, trong Đức Giêsu, đã chuẩn bị, đã dọn sẵn. Thiên Chúa đang chờ lời đáp trả “xin vâng” của chúng ta. Mỗi người hãy sáng suốt quyết định đời mình.
Xin Thánh Thần Chúa đến giúp chúng con dám chọn lựa đi theo con đường Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô.
SUY NIỆM MÙA THƯỜNG NIÊN XII A
Anh em đừng sợ người ta… (Mt 10,26a)… Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều an hem nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng (câu 27)… Tóc trên đầu an hem Cha cũng đếm cả rồi (câu 30b). Vậy anh em đừng sợ… (câu 31a).
Trọng tâm sứ điệp Lời Chúa của Chúa Nhật trước (XI A), đề cập đến chủ đề “ơn gọi”, “mầu nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa”. Những đối tượng được chọn là để phục vụ cho công trình cứu độ của Thiên Chúa, vì lợi ích chung của toàn thể nhân loại. Họ được chọn là để dọn đường, chuẩn bị (các ơn gọi trong Cựu ước: bài 1 là dân Israel) và để tiếp tục, nối dài (các ơn gọi trong Tân ước: Tin Mừng XI A nói đến Nhóm Mười Hai) công cuộc của Đức Giêsu. Như vậy người được Chúa chọn không phải là để “ngồi chơi xơi nước”, muốn làm gì thì làm, mà là để dâng hiến cả cuộc đời, kể cả mạng sống, để cộng tác vào việc thực thi sứ mạng Chúa ban, công bố cho mọi người biết Ý định của Thiên Chúa, hoàn tất dự tính của Người.
“CÔNG BỐ, RAO GIẢNG LỜI CHÚA”. Thoạt nghe tưởng chừng đó là một công việc đơn giản, dễ làm. Tuy nhiên kể từ khi hai tổ tông sa ngã, nhân loại đắm chìm trong tội, trong sa đọa… thì con người đã sợ hãi, trốn tránh Thiên Chúa, xuyên tạc bóp méo lời Chúa… và Lời Chúa trở thành ánh sáng làm phơi bày những lỗi phạm con người, Lời Chúa đòi con người phải nhận tội, sám hối… bắt phải từ bỏ đường lầm lạc, chấp nhận mọi hậu quả của tội, trở về cùng Thiên Chúa xót thương, tha thứ.
Gặp gỡ Thiên Chúa! Nghe lời sửa dạy của Thiên Chúa (mà tội nhân coi như là Thẩm Phán đến kết án tội nhân)! Đó là điều đáng sợ đối với tội nhân. Vấn đề bây gườ là làm sao giúp tội nhân nhận ra được rằng những lời nghiêm khắc củaThiên Chúa thực ra là thuốc chữa lành, hồi phục phẩm giá nhân loại. Đức Giêsu đã được Cha sai xuống trần để làm công việc thuyết phục, đổi mới lòng người giúp họ nhận ra Tình Cha mà hối cải.
Mặt khác, còn có ma quỷ luôn rình chực để phá rối công trình của Thiên Chúa, hãm hại nhân loại xúi họ chống đối lời Thiên Chúa; Vì Chúng (Qủy) dư biết rằng Lời Chúa sẽ giải phóng nhân loại khỏi sự khống chế, xích xiềng của Chúng. Và nhân loại, một khi đã đắm chìm trong “bóng tối” thì rất sợ “ánh sáng”, sự hoái cải; Vì sứ điệp cứu độ của Chúa thường đi ngược lại với những ước mơ trần tục thấp hèn của “đêm tối”. Nên tất cả những thế lục của “đêm đen” sẽ liều mình tìm mọi cách chống phá, làm chậm lại tiến trình cứu độ. Kết quả là những ai theo đường lối Chúa, được Chúa mời gọi cộng tác sẽ bị chống đối, bị thế gian loại trừ, bị mỉa mai, vu khống, làm thành trò cười cho thiên hạ.
Trước những khó khăn ấy, người của Chúa, người được chọn bị giằng co nội tâm: làm hay không làm theo lệnh Chúa. Họ dễ bị rơi vào cơn cám dỗ TÌM AN THÂN: THÔI! Đừng nói lời Chúa nữa (x. Gr 20,9). Nỗi sợ hãi, bất an, các nguy cơ đe dọa dễ làm cho người của Chúa bị tê liệt, chùn bước, bỏ cuộc.
Chúa không mị dân. Lời Chúa hôm nay, qua lời cầu nguyện thở than của Giêrêmia và lời động viên của Đức Giêsu cho Nhóm Mười Hai, nói thẳng ra thực tại phũ phàng mà người theo Chúa phải đối đầu khi thi hành sứ mạng Chúa đã giao phó.
Trong bài 1, Giêrêmia bày tỏ, nỗi niềm chua chát ra cùng Chúa: ông bị đối phương vu cáo, chụp mũ, dán cho nhãn hiệu đầy ác ý mỉa mai: “lão tứ phía kinh hoàng”; Rình rập bày mưu hãm hại (Gr 20,10); Nhưng nhờ lòng tín thác vào Chúa, tin có Chúa ở cùng và bênh đỡ ông nên ông vẫn đứng vững trước phong ba bão tố (câu 11). Chung cục ông đã biểu lộ đức tin qua lời cầu nguyện tín thác (câu 12) và ca ngợi Chúa (câu 13).
Qua bài đọc Tin Mừng, Đức Giêsu khích lệ các môn đệ: ĐỪNG SỢ! Và điều phải làm là công khai loan báo Lời Chúa mà mình đã lãnh nhận. (Mt 10,26-27). Câu 28 hàm ý các nguy cơ mà môn đệ phải đối đầu có khi đưa họ đến cái chết. Đức Giêsu trấn an bằng lời kêu mời phó thác cho tình yêu quan phòng của Chúa qua hai hình ảnh “chim sẻ” và “sợi tóc rụng” đều không nằm ngoài tầm quan phòng của Chúa (các câu 29-31). Chóp đỉnh bài đọc là một lời mặc khải: vừa là lời trấn an rằng ơn cứu độ chắc chắn được ban cho các môn đệ can đảm tín trung; Vừa là một lời cảnh cáo mời gọi hãy kiên trì công bố Tin Mừng dù khó khăn, nguy khốn (các câu 32-33).
Ngày hôm nay, các chống đối Lời Chúa về mặt vật chất vẫn còn nhiều và hình thức tinh vi, ma quỷ hơn. Tuy nhiên có lẽ điều nguy hại nhất là tín hữu lơ là với Lời Chúa: không đọc Lời Chúa, suy gẫm trong lòng như Đức Mẹ thì lấy gì mà rao giảng. Đứng trước các tiêu cực của thế giới hôm nay, nhiều người cứ thở than: “tại sao Chúa im lặng”, trong khi đó thì thực tế cuốn Kinh Thánh vẫn bị xếp xó để yên trên bàn thờ. Chính Lời Chúa là giải pháp Chúa đã ban. Phải đọc, suy gẫm Lời Chúa thì mới biết phải loan báo điều chi.
BÀI ĐỌC I: Gr 20,10-13
Bài đọc 1 là một trích đoạn từ phần cuối của Gr 20,7-18, vị ngôn sứ thổ lộ tâm tình, nỗi dằn vặt của ông trước
- Một bên là những đòi hỏi của ơn gọi mà Chúa đã trao cho ông;
- Còn bên kia là sự cứng lòng của dân, vua, quan, tư tế không muốn đón nhận sứ điệp mà Giêrêmia loan báo.
Chính Chúa buộc ông phải công bố những sứ điệp đầy tính chiến đấu, khiêu khích với một cung cách trình bày dữ dội không khoan nhượng nể nang gì cả: mở miệng là phải LA LỚN: “bạo tàn”, “phá hủy” (20,8). Do đó bị chống đối, trù dập, bách hại là chuyện hiển nhiên.
Nhìn lại thân phận, ơn gọi “trên đe dưới búa” của mình, Giêrêmia cảm thấy bị tổn thương, bị chèn ép, tước đoạt. Vì thế xen kẽ với những sấm ngôn dữ dội của sứ mạng, sách Giêrêmia cũng có những đoạn trần tình, đánh động lòng người, trong đó ông bày tỏ tâm tình, thú nhận những “nổi loạn”, giằng co nội tâm của ông thật là cảm động.
Trong những đoạn đó, ông đã buông thả tình cảm, để tự do bộc trực trổi vọt lên những lời than thở, khắc khoải, lo âu và thậm chí có cả những nghi ngờ, chán nản nữa. Những đoạn trần tình này nằm rải rác trong tác phẩm, nhưng đã được các chuyên gia Kinh Thánh gôm lại dưới cái tên “những tụ thú của Giêrêmia”: Gr 11,18-23; 15,10-21; 17,14-18; 18,18-23; 20,7-18.
Bài đọc 1 nằm trong đoạn cuối 20, 7 -18. Đoạn văn này cho thấy tâm trạng, cuộc xung đột nội tâm, những dằn vặt, chiến đấu của Giêrêmia, và cuối cùng là sự chọn lựa chung cuộc của ông: Sau khi tỏ hết nỗi niềm cho Chúa, ông đã để Chúa chiến thắng nơi ông, bất chấp tất cả,ông tin Chúa sẽ thắng: Trừng trị kẻ ác,bênh vực người lành, biểu dương chân lý.Do đó ông cất lời ngơi khen Thiên Chúa.
Đó la ý chính của phụng vụLời Chú hôm nay: Tin vào Chúa, vượt thắng mọi sợ hãi, cứ công khai loan truyền sứ điệp của Chúa cách hiên ngang.
Bài đọc 1 chỉ trích đọc các câu 10 – 13: Giêrêmia trình lên Chúa các mưu đồ của ác nhân và tuyên xưng lòng tín thác, cậy trông vào Chúa, tán tụng Chúa bất chấp nghịch cảnh.
1.Mưu đồ của ác nhân (Ga 20, 10)
Những sấm ngôn thẳng thừng, chói tai của Giêrêmia khiến các thính giả cứng lòng của ông coi ông như kẻ thù, kể cả những người vốn là bạn bè thân thích.Họ tìm cách trả thù, tạo ra các cạm bẫy chờ Giêrêmia vấp ngã để tố cáo ông ( x.Gr 11, 18 -19; 12,6;18,18.22). Ở Gr 20,10 này kể ra 2 mưu mô chống đối.
*Vu cáo, dán nhãn: Họ phủ đầu Giêrêmia với cái tên “ lão tú phía kinh hoàng”,qua đó họ vu khống Giêrêmia là phản bội, chống đối dân tộc vì ông thường loan báo tai họa, cảnh cáo dân bằng công thức đó ( x. Gr 6,25; 20,3; 49,29). Những kẻ không ưa thích sứ điệp ông loan báo đã đặt chết tên ông như thế để chế giễu, làm nhục, vu cáo ông.
*Tố cáo: “Tố cáo” ở đây không mang 1 ý nghĩa pháp lý theo nghĩa chính xác. Theo pháp lý, “tố cáo” là vạch trần, làm phơi bày ra những gì là xấu xa của kẻ gian ác; Mà Giêrêmia lại là người công chính, mọi hành vi, lời nói của ông đều phát xuất từ Thiên Chúa.
Ở đây “tố cáo” gợi lên cuộc đời đầy bão táp phong ba mà các đối thủ của Giêrêmia đã đối xử với ông với hậu ý là bằng mọi giá phải loại trừ ông ra khỏi cuộc sống. Họ bày ra đủ mọi mưu mô để “tố cáo” ông: dán nhãn mỉa mai hạ nhục – tráo trở, vu khống, xuyên tạc – gài bẫy, rình rập…( xem 1 đoạn tiêu biểu Gr 26, 4 – 15)- Cuối cùng là dùng bạo lực thủ tiêu ( Gr 38, 1-6) nhưng may là ông được cứu thoát- Cho đến khi các sấm ngôn của ông ứng nghiệm, quân Babylon tràn vào Giêrusalem thì những kẻ chống đối phải trốn chạy và bọn họ đã bắt ép Giêrêmia đi theo họ qua Ai cập ( Gr 42,19 -22; 43, 4 -7 )
Họ muốn loại trừ ông khỏi cuộc sống, nhưng Thiên Chúa lại sai ông đến với dân để công bố sứ điệp cứu độ của Chúa. Tiếc thay sứ điệp yêu thương đó đã bị khước từ cách phũ phàng: Vua Yoyqim bình thản xé cuộn sứ điệp của Giêrêmia quẳng vào lửa rồi ra lệnh tìm bắt ông ( Gr 36, 21-26 )
Số phận của Giêrêmia là 1 tiên ảnh báo trước cuộc đời thương khó của Đức Giêsu: Người vô tội nhưng bị dân “tố cáo”, họ tráo trở gán cho Đức Giêsu điều mà Người đã lẩn tránh: Đòi làm vua, họ tố cáo Người đời hủy diệt đền thờ….Nhưng Đức Giêsu , theo ý Cha,vẫn đến với họ và sẵn sàng biến các “tố cáo” ấy thành thập giá cứu độ.
2. Lòng tín thác của Giêrêmia vào Thiên Chúa (Gr 20, 11 -12)
Mặc dầu lao đao giữa phong ba, Giêrêmia vẫn tín thác vào Thiên Chúa.
*Yavê hằng ở bên con: “có Chúa ở cùng” là 1 đảm bảo cho sự thành công của sứ mạng ( St 28,15; Xh 3,12; Gs 1,5…) Đứng trước bao nghịch cảnh , Giêrêmia không xin bướt đi gánh nặng( dù có lúc ngả lòng…) mà vẫn kiên trì nhờ xác tín “có Chúa ở cùng”.
*Yavê các đạo binh- Yavê trang dũng sĩ:
Tên này của Yavê gợi lại hình ảnh 1 vị Thiên Chúa trung tín với Giao ước. Người đã chiến đấu như 1 trang chiến sĩ đánh tan mọi cường quyền, áp bức để cứu dân. Người là “Thiên Chúa Sabaot” tiếng Do thái “ Yavê Sabaot”- YHWH Sabaot = Yavê ( Thiên Chúa) các đạo binh ,Thiên Chúa các đạo binh Israel. Nhắc lại danh hiệu này Giêrêmia nói lên sứ vụ của ông là phải chiến đấu và chắc chắn rằng chiến thắng phải thuộc về Thiên Chúa, nghĩa là thuộc về ông.
Trong suốt dòng lịch sử Israel, khi dân trung tín thì Thiên Chúa luôn giúp dân chiên thắng, nhưng không phải vì thế mà dân muốn làm gì thì làm: Nếu dân bất trung, Thiên Chúa sẽ chông lại dân để bảo vệ sự công chính, thánh thiêng của Người, dân sẽ bị bại trận,bị phạt. Xác tín vào 2 thuộc tính: Công bình và chiến đấu của Chúa, Giêrêmia rằng Thiên Chúa sẽ thắng đám dân cứng lòng này và làm cho sự thật tỏ lộ. Thật vậy Nabucodonosnor sẽ làm cho lời sấm của Giêrêmia ứng nghiệm.
*Điều đáng lưu ý là Giêrêmia trao phó hoàn toàn cho Thiên Chúa quyền phục thù (CGKPV dịch là “trị tội”) chứ ông không đòi phục thù theo ý định cá nhân mình. Ông vẫn yêu mến và nhiều lần cầu nguyện cho dân trước mặt Chúa. ( x.7, 16; 11,14; 14,11…)
3.Lời ca ngợi (Gr 20,13)
*Hãy ca tụng ngợi khen Giavê: Những lời tự thú của Giêrêmia được kết thúc bằng một lời tung hô vui mừng, 1 tiếng kêu tín thác chắn chắn rằng lời nài van của ông sẽ được đón nhận. Lý do ca ngợi: Tin chắc Thiên Chúa sẽ giải thoát kẻ cơ bần.
*Kẻ cơ bần: Ở đây phải hiểu là những người chỉ còn chỗ nương thân duy nhất là Thiên Chúa.Cụ thể: chính là Giêrêmia : Bạn bè, thân thích, vua quan….đều chống lại ông, chỉ còn Thiên Chúa là nơi để ông cậy dựa.
4.TÓM KẾT
Đây là thời than vãn trần tình của Giêrêmia dâng lên Chúa trước thực tại đau lòng: Lời Chúa bị khinh bỏ, dân lao vào sai quấy,tội lỗi, bản thân ngôn sứ bị hất hủi, bị thù ghét và có nguy cơ bị giết chết. nNhưng vượt trên tất cả, ngôn sứ vẫn vững lòng cậy tin nơi Thiên Chúa, vẫn can đảm loan báo Lời Người trong niềm cậy trông không lay chuyển: Thiên Chúa sẽ chiến thắng.
Thân phận của Giêrêmia thật là một minh họa sống động cho lời Đức Giêsu nói cùng các môn đệ trong Tin Mừng hôm nay : Anh em đừng sợ - hãy can đảm công bố Lời Chúa – Vì Chúa Quan Phòng hằng lo đến anh em.
TIN MỪNG: Mt 10, 26- 33
Tin Mừng hôm nay tiếp tục trích đoạn từ bài giảng truyền giáo ở chương 10 nói về sứ vụ của các tông đồ. Sau khi chọn nhóm 12 và trao cho các ông quyền năng (cc 2-5), Đức Giêsu sai các ông đi rao giảng với những chỉ thị cụ thể về nội dung, cách thức, đối tượng của rao giảng (cc 5b – 16). Tiếp đó Người cũng cho thấy những thử thách, bắt bớ mà các môn đệ sẽ phải đương đầu trên bước đường truyền giáo (cc. 17-22). Mặc dù vậy, người môn đệ vẫn cứ phải kiên trì rao giảng công khai không sợ hãi với lòng tín thác không lay chuyển vào Thiên Chúa (cc 26-33) cuối cùng, trong chương 10. Matthêu cho thấy điều kiện cốt yếu để theo Đức Giêsu là từ bỏ, và phần thưởng cho những ai tin nhận, làm theo lời Người (cc. 34-42).
Tin Mừng hôm nay là lời khích lệ của Đức Giêsu truyền cho các môn đệ, đặc biệt Nhóm Mười Hai phải rao giảng công khai những gì mình đã được đón nhận riêng tư từ Đức Giêsu. Đừng sợ gì cả, vì tình yêu của Thiên Chúa luôn muốn điều tốt nhất cho các môn đệ của Đức Giêsu. Và cuối cùng Đức Giêsu công bố việc chấp nhận hay không chấp nhận thi hành lệnh truyền trên sẽ là yếu tố quyết định cho phúc lộc mai sau của người môn đệ.
Cấu trúc bài đọc Tin Mừng
1. Lời khích lệ: ĐỪNG SỢ– Đối tượng: NGƯỜI TA câu 26a.
- Lý do không sợ: vì tất cả mọi sự rồi cũng sẽ được phơi bày hết (c.26)
-Hệ luận : Phải hành động như thế nào?
Loan báo công khai những điều đã được đón nhận cách bí ẩn (c.27)
2. Lời khích lệ được nhắc lại : ĐỪNG SỢ
-đối tượng lần này là : “Những kẻ bách bại có thể, giết chết thể xác môn đệ c.28
-Lý do không sợ; 3 lý do
vì chúng không giết được linh hồn (c.28a)
• vì phải sợ Đấng đáng sợ hơn : giam cả xác hồn trong hỏa ngục (c.28c)
• Chúa quan phòng hằng lo lắng cho chúng ta : 2 hình ảnh cc.29-31
Sợi tóc của ta cũng đã được đếm cả rồi
Chúa lo cho chim sẻ, ta quy hơn chim sẻ bội phần
* Hệ Luân : Vậy phải hành động như thế nào ?
-Hãy chọn lựa : rao giảng hoặc không rao giảng Đức Giêsu trước mặt thiên hạ và hậu quả của sự chọn lựa ấy.
1. Lệnh truyền : ĐỪNG SỢ! Mt 10, 26a. 28a. 31a)
* Sợ cái gì ? Cách chung theo Tin Mừng đó là sợ khổ đau, sợ cái chết, sợ bị hất hủi bạc đãi từ đó dẫn tới việc sợ rao giảng Tin Mừng. Bởi vì rao giảng Tin Mừng là nguyên nhân dẫn đến những bách bại, và vì nhất là học trò không hơn Thầy được, số phận Thầy thế nào thì môn đệ cũng thế (x.Mt10.24-25); còn vì việc lành, phần phúc vĩnh cửu mà Đức Giêsu mang tới đi ngược lại với những thị hiếu, dục tính nhất thời, thấp hèn của con người tội lỗi nên họ đã vu khống Đức Giêsu trừ quỷ là nhờ Beelzeboul và tím cách bách bại Người. Vậy nếu môn đệ đi theo con đường của Đức Giêsu thì phải cùng chung số phận thôi. Sợ là phải!
* Đọc kỹ c.26a ta thấy lời khích lệ đầu tiên chưa nói tới bách bại : đối tượng của “ Đứng sợ” là “người ta” cách chung, và lời mời cụ thể chỉ mang tính tổng quát vô thưởng vô phạt : hãy loan báo công khai những gì đã được nghe Đức Giêsu giảng dạy cách riêng tư.
“Sợ người ta” có nghĩa là sợ áp lực xã hội, sợ dư luận, sợ xấu hổ khi bị tập thể cho ra rìa, sợ bị cho là “nhà quê”, là kẻ lạc hậu, là lỗi thời quá “đát”... sợ mất danh dự, mất uy tín, sợ thất sủng một khi chúng ta dám công bố và tin vào Đức Giêsu vào lời Người, bởi vì lời và lối sống của Người là nghịch nhĩ, gai mắt đi ngược lại với những sở thích đam mê thấp hèn của xã hội. Nói lên sự thật có nguy cơ “bị đuổi khỏi hội đường” (xGa 9,20 –23-34).
* C.28a mới nói tới bách bại: giết chết phần xác, sợ những cấm cách, những khủng bố đàn áp. Nói cách chung là sợ những khó khăn, bạo lực từ bên ngoài đưa tới đe dọa sự sống còn về phần xác của kẻ tin.
*Thế nào là “ĐỪNG SỢ”?
-Không thể hiểu theo nghĩa tâm lý : liều mạng, không phân biệt được đâu là an đâu là nguy hoặc vô tri không lường được hậu quả tai hại cơ thể xảy ra do 1 việc làm bất cẩn, khờ dại.
- Rõ ràng trong c.28b, Đức Giêsu dạy phải biết sợ điều cần phải sợ.
-Vậy đừng sợ ở đây có thể hiểu là:
* Dám công bố, quyết tâm công bố điều mình đã lãnh nhận được từ Đức Giêsu, dù biết rằng làm như vậy có thể đưa mình tới nguy hiểm tính mạng, mất an toàn...Trong thực tế có nhiều người liều mạng vào những việc không đâu hoặc anh hùng rơm, tự ái nhưng lại không nhiệt tình rao giảng Lời Chúa, thấy khó là lui.(cc26-27), Để thực sự là “Đừng Sợ” theo đúng nghĩa của Mát Thêu, cần phải biết và lưu tâm đến những thực tại khách quan của các định luật về xã hội, vũ trụ, khoa học..Một khi đã biết những thực tại rồi thì về tâm lý sợ vẫn cứ sợ nhưng vì yêu, vì tín thác vào Chúa vì ích lợi của ơn cứu độ nên làm vẫn cứ làm.
* Phó thác tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng hằng lo lắng và muốn điều tốt nhất cho mình (CC28-31).
* Không chỉ sống vì cái hiện tại đang thấy trước mắt mà còn hướng về tương lai chung thẩm (32-33).
-Vậy “Đừng Sợ” ở đây được đề cập đến trong lãnh vực đức tin. Điều này không hề miễn trừ cho kẻ tin những yếu đuối, sợ hãi về mặt tình cảm, tâm lý tự nhiên..tuy nhiên, giữa muôn vàn yếu đuối ấy, kẻ tin vẫn vững tâm loan báo Tin Mừng, vì tin vào lời Chúa hứa, vì biết và quyết muốn có cùng thân phận với Đức Giêsu, Đấng mình tin, trong niềm xác tín sẽ được cùng Người chung phúc vinh quang.
2. LÝ DO CỦA “ĐỪNG SỢ”(Mt 10, 26b -31)
* Liên kết với cc 24-25: Đừng sợ không phải vì Thiên Chúa sẽ bảo vệ tôi an toàn tuyệt đối, không vì ảo tưởng rằng kẻ ác không hại được các kẻ tin, không chống lại được kẻ tin (c.28 rõ ràng Đức Giêsu nói kẻ ác có thể giết chết kẻ tin), nhưng là vì môn đệ ý thức và xác tín được rằng môn đệ và Thầy có cùng chung thân phận và con đường Thầy mình đã vạch ra là con đường duy nhất đưa nhân loại vào Nước Trời. Vậy khi khuyên “đừng sợ”, Đức Giêsu muốn nhắn nhủ môn đệ : ước gì nỗi sợ hãi của các con (rất là con người, sợ do những gì đã nói ở cc17-25 gây ra) không ngăn cản làm các con chùn bước làm chứng cho thầy, dù sợ nhưng vì yêu Thầy vẫn dấn thân chấp nhận cùng một thân phận với Thầy.
*Vì thời gian Chúa muốn sứ điệp Người tỏ lộ đã tới: trong văn bản hi lạp, 2 đông từ “Sẽ được tỏ lộ”, “sẽ được nhận biết" ở dạng thụ động tương lai. Vậy c.26b có thể hiểu : điều mà trước kia Thiên Chúa còn che dấu, nay Người đã tỏ lộ cho biết trong Đức Kitô và điều đó còn được Thiên Chúa tiếp tục trong tương lai qua các môn đệ. Với sự xuất hiện của Đức Giêsu, thời mặc khải chung cuộc đã đến rồi, và những gì Đức Giêsu mặc khải phải được môn đệ công bố cho muôn dân. Cụ thể là Đức Giêsu trước phục sinh, chú tâm huấn luyện nhóm nhỏ môn đệ thân tín nhiều hơn, vì đám đông cũng như đoàn lũ môn đệ chưa thể hiểu nổi sứ điệp cứu độ của Người, ví dụ : có thể hiểu lầm về vai trò của Đấng Mêsia chẳng hạn, nên Người tạm giới hạn việc huấn luyện vào một số nhỏ thân tín để dễ bề cắt nghĩa, điều chỉnh...Nhưng sau Phục sinh thì sứ điệp ấy không còn bị mây mù xác thân nhân loại che khuất nữa nên phải được công bố công khai (được bảo đảm và trợ lực bởi Đấng Phục Sinh đầy quyền năng và bởi Chúa Thánh Thần) để cứu nhân loại : đó là sứ mạng của Giáo Hội (x.CGKPV Tân Ước 92n).
*...hãy rao giảng trên mái nhà: “mái Nhà" là sân thượng. lå Nhà của Người Canaan có mái bằng như sân thượng chúng ta hiện nay. Ở trên đó người có thể để củi, giấu Người như trường hợp Rakhab giấu 2 thám tử của Giosuê, làm phòng cho khách trú như trường hợp bà Sunêm đối với Elisa. Nơi những nhà lớn, sân thượng có thể làm nơi hội họp. Do đó “rao giảng trên mái nhà” có nghĩa là công bố giữa cộng đoàn.
* Vì Thiên Chúa là chủ đích thực của sự sống thật:
-Trước tiên ta Thấy Đức Giêsu không ảo tưởng, không mị dân. Người cho thấy kẻ ác có thể hãm hại, giết chết xác thân của môn đệ. Về mặt tự nhiên, điều ấy đáng sợ chứ!
-Tuy nhiên, có 1 điều khác đáng sợ hơn : Thiên Chúa có thể tiêu diệt cả xác lẫn hồn trong hỏa ngục.
-Thoạt nhìn sự việc có vẻ tiêu cực, bi quan, kẻ tin bị dồn vào lối cụt : đàng nào cũng chết. Trung tín với Chúa thì bị kẻ ác giết, còn bất trung thì trước sau gì cũng chết (số phận con người là vậy) và còn bị đày xác hồn trong hỏa ngục nữa. Tuy nhiên qua những tiêu cực ấy, Đức Giêsu nhắc cho môn đệ thực tại này : con người, ai cũng phải chết, nhưng rồi Người không ngừng lại ở đó. Người mở ra con đường sống : cái chết thân xác dẫn đến một cuộc sống mới, cuộc sống trong ThiênChúa, gắn bó với Thiên Chúa, cuộc sống này là vĩnh cửu và nó hồi phục lại cuộc sống mới, cuộc sống xác thể và nâng lên cao hơn. Điều này Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu phục sinh.
Vậy c.28b là lời Thiên Chúa đề nghị cho kẻ tin (đã tin Đức Giêsu phục sinh) : hãy chọn lựa: chọn lựa cái chết tạm thời của xác thể (nếu buộc lòng phải xảy ra) để rồi sẽ được lại sự sống cho xác thể ấy ở mực cao hơn và cả sự sống của linh hồn nữa trong Nước Chúa, Chính niềm tin vào sự sống đời sau và vào sự phục sinh thân xác đã được bảo chứng bằng sự kiện Đức Giêsu Phục sinh giúp chúng ta hiểu được lý do thứ 2 “ đừng sợ” : Thiên Chúa là cội nguồn sự sống và qua phục sinh, ĐGS cũng là cội nguồn sự sống mới cho kẻ tin. Vậy những ai thi hành lệnh Chúa đúng như Đức Giêsu dạy thì dù thân xác có phải chết, họ cũng sẽ được Thiên Chúa cho sống lại và cả xác hồn sẽ đi vào cuộc sống thân mật vĩnh cửu với Người như Đấng Phục sinh. Theo các Nhà chú giải, đoạn này được Matthêu soạn thảo cho cộng đoàn của ông sau khi Đấng Phục Sinh thăng thiên để khuyến khích công cuộc truyền giáo của cộng Đoàn (đang gặp phải nhiều cản trở, bách bại) theo gương các tông đồ (họ đã chết vì danh Đức Kitô).
*Vì Thiên Chúa là đấng Quan Phòng: Hằng yêu thương chăm sóc mọi loài nhất là những kẻ trungtín sống lời Đức Giêsu : trước tiên hãy lưu ý việc thay đổi danh xưng : “Đấng có thể tiêu diệt” ở C.28 đã đổi thành “cha của anh em” ở c.29. Đấng có bộ mặt thẩm phán thực ra là CHA. Chính vì thế, ngay cả cái chết thể xác của môn đệ cũng không nằm ngoài sự quan phòng của Cha : một con chim, một sợi tóc rụng cũng không nằm ngoài dự tính của Cha, huống chi là mạng sống của người môn đệ tín trung của Người. Vậy phải hiểu sao về cái chết của Người Môn đệ trung tín? Phải chăng cha muốn họ chết rồi mới ban cho họ Nước Trời?
Để trả lời câu hỏi trên cần NHẬN ĐỊNH:
- Sự sống thể xác là Quý, nhưng nó không phải là cội nguồn sự sống và nó cũng không thể tồn tại mãi dưới dạng xác phàm hữu hạn, bất toàn, bệnh tật...được. Nó phải qua đi để nhường chỗ cho sự sống vĩnh cửu. Chết thể xác là cách Thiên Chúa cất đi cái hữu hạn rồi thay vào bằng cái vô biên.
- Thiên Chúa thực hiện việc thay đổi ấy như thế nào? Bằng cách Người đảm nhận lấy cái chết như là của Người và xử lý nó theo cách thức của Người. Thật vậy, về mặt khách quan, cái chết là của một vị tử vì đạo cũng chỉ là cái chết không nằm ngoài định luật thân phận con người. Nó sẽ đưa vị tử đạo đến hủy diệt. Thế nhưng trong Đức Kitô, Thiên Chúa đảm nhận cái chết của vị tử đạo như là trách nhiệm của Người : vị tử đạo CHẾT VÌ CHÚA. Do đó, Chúa sẽ đền bù bằng cách thay vì để vị tử đạo rơi vào chỗ hủy diệt thì Chúa đền bù lại cho vị ấy bằng SỰ SỐNG CỦA CHÍNH NGƯỜI, sự sống vĩnh cửu vượt xa sự sống giới hạn của xác thân hiện tại. Lúc đó, cái chết thể xác của vị Tử đạo trở nên phương tiện hữu hiệu công bố cho thế gian biết sứ điệp cứu rỗi của Đức Giêsu, sự vượt thắng của sứ điệp ấy lên trên sự chết...và nó trở nên một lời cảnh tỉnh, lời mời TIN ĐỂ ĐƯỢC SỐNG.
Như vậy, trong tình yêu quan phòng Thiên Chúa, Người theo sát kẻ tin từng li từng tí cho đến cả lúc chết, cách chết để đảm nhận toàn bộ cuộc sống ấy làm của Người, làm chứng từ cho thế gian thấy tình yêu, quyền năng của Người, cách thức Người hoàn tất thánh ý. Nhờ đó cái chết của kẻ tin trở thành cái lối mở ra dẫn kẻ tin và tha nhân vào cõi sống vĩnh hằng. Vậy cái chết ấy thật đáng giá, thật đáng ước mong chứ không phải là cái chết của thất bại, là hậu qua của sự ác nữa. Qua thế thì còn gì sợ hãi nữa!.
3. Cánh chung khởi đầu trong hiện tại : lời tuyên cáo của Đức Giêsu (Mt 10, 32-33)
* Ai tuyên bố...ai chối từ ...: Đức Giêsu vừa là trạng sư cầu bầu cho kẻ tin trước Thiên Chúa nhưng đồng thời cũng là người chối từ chúng ta trước mặt Cha trong ngày chung thẩm. Thái độ của Đức Giêsu chẳng qua chỉ là lập lại trước mặt Thiên Chúa lập trường của mỗi người chúng ta trước cơn thử thách đối với Đức Giêsu.
-Hoặc là trước mặt mọi người, ta đã tuyên xưng mình thuộc về Đức Kitô hoặc là phủ nhận mình không là môn đệ Người.
-Với một tầm nhìn rộng, bao quát hơn thì : “Tuyên bố nhận thầy” có thể hiểu là giữ những gì Đức Giêsu truyền dạy, can đảm sống theo những chuẩn mực của Tin Mừng, loan báo nhiệt tâm quảng bá lối sống Tin Mừng bất chấp dư luận, không sợ hổ ngươi.
4.TÓM KẾT:
Tin Mừng hôm nay vọng lại cho chúng ta bối cảnh của cộng đoàn Matthêu, lúc Tin Mừng được soạn tác: Sứ điệp của các tông đồ, chứng từ về Đấng Phục Sinh đang gặp những chống đối gay gắt từ phía Do Thái giáo. Thực tế này đã khiến nhiều môn đệ chùn bước, không còn nhiệt tình rao giảng Tin Mừng nữa, muốn lui vào thế thủ an thân. Mattheu muốn vực họ dậy bằng cách cho họ thấy cái phù du của kiếp người và cái hạnh phúc chân thật vững bền do Thập Giá Đức Kitô mang lại. Lời cảnh báo của Mattheu luôn là điều mà các tín hữu phải ý thức và răn mình. Thực vậy, ngày nay những cơn bách bại không đổ máu đang lan tràn khắp nơi, dụ dỗ kẻ tin chạy theo các “Tân Tà Thần”, “Tân đế quốc”: tiền , danh, khoái lạc, thụ hưởng vô độ trước những trào lưu như vậy, Kitô hữu có nguy cơ không dám công khai loan báo sứ điệp khổ chế, làm chủ bản thân, thập giá của Đức Kitô. Lời kêu mời “Đừng Sợ” “Hãy Loan trên mái nhà " ...luôn là sứ điệp khẩn thiết, mang tính thời sự cho chúng ta, các Kitô hữu hôm nay.
BÀI ĐỌC THÊM : “ĐỪNG SỢ”
Điểm nổi bật trong Tin Mừng hôm nay là lời Đức Giêsu trấn an các môn đệ, khích lệ thúc đẩy các ông loan báo điều đã được lãnh nhận từ nơi Đức Giêsu, trong tâm tình cậy trông phó thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.Tin Chúa quan phòng đó là điều cốt yếu để các môn đệ hoàn thành được, đúng theo ý Chúa, sứ vụ truyền giáo đầy thách đố mà Đức Giêsu đã trao.
Lời trấn an, gọi mời tin tưởng vào Chúa Quan Phòng trong trích đoạn Tin Mừng hôm nay được gồm tóm trong 4 lần lập lại động từ “SỢ”: 3 lần “ĐỪNG SỢ” (cc.26.28a.31) và 1 lần “HÃY SỢ” (c.28b).
Vậy vấn đề không phải là vô cảm, liều mạng “điếc không sợ súng”, chẳng biết sợ hãi là gì! Vấn đề là phải biết sợ đúng đối tượng, đúng nơi, đúng lúc và biết rõ lý do vì sao phải sợ. “Sợ” không phải vì hèn nhát, trốn chiến đấu, tìm an thân cho bản thân mình; Nhưng “Sợ” là vì lợi ích cứu độ cho mình và cho tha nhân; Phải biết sợ để nỗ lực tìm cách hoàn tất sứ mạng Chúa đã trao ban.
1. Hai cái “Sợ” đầu tiên nhắm vào đối tượng là người đời, là những kẻ quấy phá, cảm trở sứ vụ loan Tin Mừng của các môn đệ:
1.1 “Đừng sợ người ta”: “người ta” ở đây là những kẻ chống đối, tố cáo, vu khống, bách hại các môn đệ được Đức Giêsu nói ở đoạn trên Mt 10, 17-24. Bọn này đang tìm đủ mọi cách để cản trở việc loan báo Tin Mừng, vì sứ điệp Tin Mừng làm xáo trộn cuộc sống của họ, làm bậc thang giá trị sống của họ bị đảo lộn ( x.Mt 5-7). Vậy sự điệp mà Đức Giêsu gởi cho các môn đệ ở đây là: đừng sợ các chướng ngại ấy, cứ mạnh dạn tuyên bố công khai sứ điệp Tin Mừng mà mình đã nhận được nơi Đức Giêsu, không gì ngăn cản được hạt giống Tin Mừng sẽ có một vụ mùa bội thu: hạt được gấp trăm, 60, 30 (x. Mt 13, 3-9) bất chấp trong hiện tại, kẻ thù gieo cỏ lùng quấy phá (x. Mt 13, 24-30).
1.2. “Đừng sợ kẻ chỉ giết được thân xác”: “chết” là nỗi sợ lớn nhất của kiếp người, nó làm tê liệt mọi cố gắng, vô hiệu hóa mọi nỗ lực của phận người. Ác thần đã ma giáo khai thác nỗi sợ cái chết để khống chế, điều khiển một số lớn người. Thực ra Ác Thần chẳng có quyền chỉ trên số phận con người nếu không được Chúa cho phép, nhưng mọi sự vẫn nằm trong bàn tay quan phòng yêu thương của Chúa (x. Giop 1-2). Cái chết chẳng qua đó chỉ là hậu quả của việc con người khước từ đón nhận sự sống từ Thiên Chúa (x.St 2,16-17). Chúa phạt con người phải chết nhưng chết chỉ là một giai đoạn vì Chúa đã chuẩn bị trước phương thức để hồi sinh (x. St 3,15) và cuối cùng sự chết thể xác sẽ không còn nữa (x. Kh 21,4).
Vậy với lời “đừng sợ” thứ hai này, Đức Giêsu vạch trần bộ mặt lừa đảo, dối trá, bịp bạn của Ác Thần với bè lũ tay sai của nó. (Nó đã lừa được Adam - Eva trong Vườn Eden, nhưng không lừa được Đức Giêsu trong “cơn cám dỗ ở hoang địa” và “trên Thập Giá”); Đồng thời hướng dẫn cho đoàn môn đệ con đường phải theo qua hai lời khuyên “HÃY SỢ” rồi “ĐỪNG SỢ”.
2. “HÃY SỢ” Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục:
Thiên Chúa mới thật là Đấng làm chủ sự sống: Người là Đấng Hằng Sống (x. Gr 10,10; Ga 6,48); Mọi loài có và sống được là nhờ Chúa gởi sinh khí tới (x. Tv 104,30) và chỉ cần “Người lấy sinh khí lại là chúng tắt thở trở về cát bụi” (Tv 104,29). Vì vậy nếu phải sợ vì bị cái chết đe dọa thì chỉ phải sợ một mình Chúa mà thôi. Câu nói “Hãy sợ” của Đức Giêsu có vẻ như đe dọa, nhưng thực ra đó là lời mời hãy tin Chúa Quan Phòng. Thật vậy hình ảnh so sánh đi tiếp ngay sau lời “Hãy sợ” (x. Mt 10, 29-30) cho thấy dung mạo chăm sóc chỉn chu mọi loại dù nhỏ bé nhất của Vị Thiên Chúa Quan Phòng không hề bỏ rơi bất kỳ sự gì Chúa đã dựng nên.
Vậy các môn đệ được sai đi phải tin vào Chúa Quan Phòng mà can đảm vượt qua mọi sợ hãi cho dù là phải chết phần xác để loan Tin Mừng giải phóng nhân loại khỏi cái bẫy “dối trá” mà Ác Thần và bè lũ tay sai giăng ra để cản trở ơn giải cứu đến cùng nhân loại.
3. “Đừng sợ” (câu 31) chữ này đồng nghĩa với “Hãy tin Chúa Quan Phòng” như đã nói trên. Vì các môn đệ đã nghiệm ra được Tình Yêu Thiên Chúa trên cuộc đời mình, đã xác tín được rằng con người của mình là cực kì quý giá trước mắt Thiên Chúa: Để cứu chúng ta Chúa đã trả giá bằng chính sự sống của Con Một Người (x. Ga 3,16). Tuy nhiên vì Chúa là chủ sự sống nên qua cái chết của Đức Giêsu mọi án phạt đã được xóa: sự chết không còn quyền gì trên Đức Giêsu và nhân loại (x. 1Cr 15,54-55).
Vấn đề còn lại là phần cá nhân mỗi người có chịu đón nhận đường lối Thập Giá và Phục Sinh mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu làm thành gia bảo của mình hay không. Cách thể hiện: “Đừng sợ!”, can đảm vâng lệnh Đức Giêsu, tin Chúa Quan Phòng, lên đường loan báo Tin Mừng giải phóng cho mọi người.
Nhắc lại điều Chúa đòi hỏi ai cũng làm được: “Anh em hãy XIN CHỦ MÙA GẶT SAI THỢ RA GẶT LÚA VỀ” (Mt 9,38). Qua cầu nguyện trong tín thác, mỗi tín hữu là một máng chuyển hồng ân Chúa cho thế giới. Bài giảng về "sứ vụ truyền giáo" là lệnh truyền mà Đức Giêsu ưu ái gởi đến TỪNG TÍN HỮU và Người từng giây phút chờ mong lời đáp trên tích cực của chúng ta. Chúa luôn dư thừa ơn huệ để hỗ trợ, đồng hành với chúng ta, chỉ cần chúng ta đồng ý để Người hành động trong và cùng với chúng ta.
Pet. Đình Long, FSC