Tính duy nhất và bất khả phân ly của hôn nhân kitô giáo - Chúa Nhật 27 Thường Niên năm B
.jpg)
CHÚA NHẬT XXVII MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B
St 2,18-24; Mc 10,2-16
Chủ đề: Tính duy nhất và bất khả phân ly của hôn nhân Kitô giáo
* St 2,24: người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt.
* Mc 10,9: sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.
Hôm nay, Chúa Nhật XXVII B Mùa Thường Niên, Lời Chúa đề cập đến một vấn đề luôn mang tính thời sự và quan trọng trong thân phận làm người; Đây là nền tảng của đời sống cộng đồng, xã hội của con người: chủ đề HÔN NHÂN.
Hôn nhân! Chuyện bình thường của đời sống con người của xã hội phàm nhân. Trai gái lớn lên thì lôi cuốn lẫn nhau, tìm gặp gỡ nhau, đưa tới yêu thương, chọn lựa nhau rồi theo các quy định xã hội, dựng vợ gả chồng thành gia đình mới, sinh con đẻ cháu, lưu truyền sự sống cho nhân loại.
Với cái nhìn thuần túy tự nhiên như thế, và nhất là trong bầu khí tục hóa tôn thờ vật chất, hưởng thụ như hiện nay, con người thời đại dễ đi tới một lầm lẫn đáng tiếc, đem lại nhiều nguy hại cho đời sống hôn nhân, gia đình: đó là cho rằng hôn nhân là chuyện tự nhiên, hoàn toàn mang tính nhân loại mà thôi: đó là chuyện riêng của hai con người một nam một nữ chọn nhau, thích nhau rồi sống chung với nhau. Thậm chí có cặp còn coi thường cả các giềng mối luân lý, đạo đức xã hội của hôn nhân, hạ giá nhân phẩm của một con người: coi nhau như một đồ vật dựa trên cảm tính thất thường của mình, thấy hợp thì ở, không vừa mắt thì buông. Đó là căn nguyên của mọi đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân, gia đình, kéo theo không biết bao nhiêu là thảm trạng cho cá nhân của các đương sự lẫn xã hội.
Và còn tệ hơn nữa, có kẻ còn nhân danh tôn giáo để biện minh cho những cách cử xử sai trái của mình, muốn lôi Thiên Chúa làm bình phong ngụy biện cho lập trường tráo trở của mình như Tin Mừng hôm nay cho thấy: “Thưa Thầy chồng CÓ ĐƯỢC PHÉP rẫy vợ không?”; “ông Môsê ĐÃ CHO PHÉP viết giấy ly dị mà rẫy vợ”.
Lời Chúa hôm nay khôi phục lại giá trị THẦN LINH của hôn nhân: cội nguồn của hôn nhân trước tiên là Ý ĐỊNH YÊU THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA: “con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18); Từ nền tảng thần linh đó, một phẩm tính chỉ riêng con người mới có, được hình thành: hai người trở nên một xương một thịt (Mc 10,8) duy nhất dành độc quyền cho nhau; Và sự duy nhất bất khả phân ly ấy được chính Thiên Chúa đứng ra bảo lãnh: điều gì Thiên Chúa phối hợp… (St 2,24; Mc 10,9).
Bài đọc 1 làm nổi bật nét cội nguồn thần linh và tính duy nhất một vợ một chồng, bất khả phân ly của hôn nhân. Thật vậy, đối với sinh vật “con người” mà Chúa đã dựng nên thì Người đã có một ý định “con người sống một mình không tốt” và Thiên Chúa cũng đã có một giải pháp “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng” (St 2,18). Hình ảnh thi vị Thiên Chúa lấy xương sườn của người nam mà dựng nên người nữ hàm ý vợ chồng là xương thịt của nhau, do đó không thể tách rời ra khỏi nhau mà không làm tổn hại đến sự duy nhất, bất khả phân ly của hôn nhân. Và ý định đó của Thiên Chúa cũng đã được con người đón nhận một cách phấn khởi, mừng vui trong hạnh phúc tràn đầy “đây quả thật là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,24). Thế nhưng sau khi sa vào cạm bẫy của ma quỷ, mối tương quan vợ chồng đã bị rạn nứt, đến độ theo dòng thời gian, luật lệ con người đã đi đến chỗ đồng tình cho phép cắt đứt mối dây hôn nhân chỉ vì không vừa ý nhau, thấy không hợp ý nhau nữa (Đnl 24,1).
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã HỦY BỎ phá tập tục do các ích kỷ của con người bịa ra đó, Người gọi đó là tập tục “vì lòng chai dạ đá của các ông” (Mc 10,5). Rồi Đức Giêsu đã điều chỉnh lại bằng lời giáo huấn dựa vào dự tính từ ban đầu của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo: Thiên Chúa dựng nên loài người có nam có nữ, là để một nam một nữ sống đời vợ chồng khắng khít với nhau đến độ cả hai nên một xương một thịt (x.Mc 10,6-8). Và Đức Giêsu nhấn mạnh: đó là ý muốn của Thiên Chúa, con người không được quyền đổi thay, “điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Qua một lệnh truyền nghiêm khắc, dứt khoát, không chút nhượng bộ như thế, Marcô kín đáo mặc khải Đức Giêsu chính là Thiên Chúa, Người đến tái lập lại kỷ cương của công trình sáng tạo.
Phần riêng cho các môn đệ, “khi về đến nhà”, Đức Giêsu còn dạy thêm: đã là môn đệ Đức Giêsu, dứt khoát không có vấn đề li dị; li dị đồng nghĩa với ngoại tình (Mc 10,11-12).
Lời Chúa hôm nay mời gọi con người lượng định lại giá trị của hôn nhân dưới ánh sáng của Lời Chúa. Chính khi con người sống hôn nhân một vợ một chồng, bất khả phân ly, con người mới thật sự hạnh phúc vì thể hiện được ơn gọi làm người là “HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA”.
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXVII B THƯỜNG NIÊN
Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm ra con người có nam có nữ… cả hai sẽ thành một xương một thịt… Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly. (Mc 10,6.8a.9).
Lời Chúa của Chúa Nhật XXVII B hướng về chủ đề “hôn nhân”. Điểm nhấn của Chúa Nhật XXVII B là nguồn gốc thần linh của hôn nhân và tính bất khả phân ly, một vợ một chồng của hôn nhân. Lời Chúa cho thấy hôn nhân trong dự tính của Thiên Chúa và cách ứng xử trong thực tế của con người trước dự tính đó.
Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ để họ sống thành cộng đoàn bền vững, cùng với Thiên Chúa tạo nên sự sống mới (sinh con đẻ cái). Họ là hình ảnh của Thiên Chúa (St 1,26-28). Khía cạnh một cộng đoàn gồm một nam một nữ bền vững được củng cố thêm nhờ St 2,18.21-24: hai người nên một xương một thịt. Như vậy trong dự tính của Thiên Chúa, một nam một nữ, là “xương tôi, thịt tôi” sẽ kết thành một cộng đoàn sự sống bền vững và có khả năng tạo nên sự sống mới.
Thế nhưng khi con người sa ngã, sự dữ, sự xáo trộn xen vào trong các mối tương quan của con người, rồi sự chết xuất hiện (St 3,1 - 4,16), con người bị đuổi ra khỏi Eden, sống xa lìa Thiên Chúa… thì dự tính của Thiên Chúa bị con người làm đảo lộn: ganh tỵ, tranh dành, bạo lực thống trị, kẻ mạnh dần lấn át kẻ yếu, tương quan yêu thương, bổ trợ cho nhau bị thay thế bằng tương quan chiếm đoạt, lệ thuộc…; Và trong khía cạnh hôn nhân: hôn nhân một vợ một chồng phải nhượng bộ trước bạo lực, dục vọng của kẻ mạnh: việc đa thê mau chóng được cộng đồng nhân loại chấp nhận như là chuyện bình thường. Theo St 4,19, Lamek chỉ mới đời thứ năm tính từ Cain, đã có hai vợ.
Càng xa Chúa, con người có cái nhìn càng lệch lạc về hôn nhân. Người ta dần coi hôn nhân như là chuyện riêng tư giữa người nam và người nữ. Thiên Chúa bị đặt ra bên lề. Và một khi đã lãng quên Thiên Chúa thì con người cũng đánh mất luôn yếu tố nền làm con người là một tạo vật vượt hơn mọi tạo vật khác đó là “hình ảnh của Thiên Chúa”. Hôn nhân chỉ còn là một khế ước xã hội giữa hai đối tác ký kết một giao kèo, một hợp đồng; chứ họ không coi hôn nhân như là một sự phối hợp, nối kết hai nhân vị, mà mỗi nhân vị là độc nhất bất khả thay thế. Nếu chỉ là một hợp đồng giữa hai đối tác thì dễ dàng đổi thay đối tác khi thấy không còn hợp nhau, không còn “làm ăn” với nhau được nữa; Do đó li dị, li thư là chuyện đương nhiên và luật pháp và xã hội có thể giải quyết. Còn nếu coi hôn nhân là sự Thiên Chúa nối kết hai nhân vị độc nhất và hai nhân vị đó nhận ra đây là “xương tôi thịt tôi” thì không có vấn đề đổi thay vì mỗi nhân vị đều là “hàng độc” không gì thay thế được, mỗi con người là “duy nhất”.
Như vậy, khi hồi phục giá trị của hôn nhân một vợ một chồng bất khả phân ly chính là hồi phục nhân vị, phẩm giá con người. Trong thực tế, do nhiều lý do và áp lực, phần lớn nhân loại vẫn sống với nhau theo lối sống một vợ một chồng; số người sống đa thê tương đối là ít so với số đông nhân loại chỉ sống một vợ một chồng. Phần lớn những kẻ đa thê là những người giàu có, quyền thế, đủ phương tiện để có thể chu cấp đầy đủ cho các bà và các con. Nhiều vợ (chồng), li dị, đổi vợ (chồng) cũng là dấu chỉ của bất công, bất bình đẳng của xã hội.
Đức Giêsu được Cha sai đến trần gian là để phục hồi phẩm giá nhân loại, làm cho “hình ảnh Thiên Chúa” ngời sáng lại nơi nhân tính con người; Vì thế một trong những điều Người phải quan tâm là trả lại cho hôn nhân giá trị nguyên thủy của nó đúng như ý định của Thiên Chúa khi tạo dựng nên con người. Hơn nữa, Người còn nâng hôn nhân lên hàng bí tích (GLHTCG 1601). Hôn nhân được Đức Giêsu chúc phúc qua sự hiện diện của Người, của Mẹ Người và của cộng đoàn thiên sai (các tông đồ) trong Tiệc Cưới Cana. Hội Thánh coi đó là sự xác nhận tính thiện hảo của hôn nhân và là lời loan báo rằng hôn nhân từ nay về sau là dấu chỉ hữu hiệu về sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô (GLHTCG 1613), và còn hơn nữa, hôn nhân kitô giáo còn là biểu tượng của tình yêu của sự kết hợp của Đức Kitô và Hội Thánh (Ep 5,31-32).
Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta hôn nhân trong dự tính nguyên thủy của Thiên Chúa; thái độ đáp trả lệch lạc của con người trong thực tế; sự nhượng bộ của các thể chế, pháp luật và cuối cùng là sự hồi phục do Đức Giêsu mang tới.
Bài đọc 1: St 2,18-24
Bài đọc 1 trích từ St 2,4b-25. Đây là bản văn thứ hai trong Sách Ngũ Thư nói về công trình sáng tạo. Bản văn nhấn mạnh đến chủ đề “QUAN PHÒNG” hơn là “Sáng Tạo”: trong bối cảnh trời đất đã được dựng nên rồi nhưng chưa có sinh vật (2,4b-6); Thiên Chúa dựng nên “con người” trước tiên, nhưng chỉ mới là một người nam đơn độc, với mục đích là canh giữ và lao động làm đẹp đất đai (2,7-15). Là thọ tạo của Thiên Chúa, con người phải chấp nhận lệ thuộc vào Thiên Chúa từng bước một (Thiên Chúa không làm nên mọi sự hoàn thiện ngay nột lúc), Thiên Chúa hoàn thiện “con người” đầu tiên: Chúa thấy “Nó” sống một mình không tốt và Thiên Chúa quyết định ban cho Nó một “trợ tá tương xứng” (2,18). Dự tính đó cũng được thực hiện từng bước một:
- dựng nên mọi sinh vật và cho con người làm bá chủ ngang qua việc để con người đặt tên cho chúng (2,19-20).
- dù có tất cả mọi sự rồi, “con người” vẫn thấy thiếu thốn vì chưa có tình người, chưa có “trợ tá tương xứng” (2,20b).
- khi “ con người” đã ý thức được thực trạng của mình như thế rồi, Thiên Chúa mới dựng nên “người đàn bà” từ “xương sườn” của “con người”, rồi mang đến giới thiệu cho “con người”. (2,21-22)
- lúc đó, “con người” mới thấy hạnh phúc trọn vẹn, cuộc đời của mình là “tốt” (so 2,18), ý định Thiên Chúa về “con người” mới hoàn tất. (2,23-24).
Như vậy, sự hiện hữu và hạnh phúc trọn vẹn của nhân loại đến từ Tình Yêu Quan Phòng của Thiên Chúa: từng bước một, Người lo lắng cho nhân loại từng chút để con người đạt được tầm vóc viên mãn của phận làm người. Và yếu tố chính được bài đọc 1 nhấn mạnh ở đây là hôn nhân. Hôn nhân là quà tặng của Thiên Chúa, là sự bổ sung nhau giữa hai nhân vị để hoàn thiện cho nhau theo như ý Chúa.
* Con người ở một mình không tốt (2,18)
Trong dự tính của Thiên Chúa, con người phải là một hữu thể xã hội, phải là cộng đoàn, mặc dù mỗi người được Chúa dựng nên đều là một ngôi vị độc đáo, duy nhất. Tính cách vừa duy nhất vừa cộng đoàn này nơi con người là một phản ảnh diễn tả chân lý “con người là hình ảnh Thiên Chúa”. Thật vậy Thiên Chúa là một cộng đoàn thần linh gồm có ba Đấng, mỗi Đấng là một ngôi vị không lẫn lộn với nhau. Do đó mỗi con người chỉ đạt được nét duy nhất của từng người và đạt tới mức trưởng thành viên mãn như một con người trong cộng đoàn, nhờ sống tương quan tốt đẹp với người khác. Người công giáo - đặc biệt hôn nhân kitô giáo - phải xây dựng cộng đoàn yêu thương này ngay tại thế, nơi môi trường sống của chúng ta; Đó chính là sứ mạng, ơn gọi của chúng ta.
* Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng
Toàn thể thọ tạo hữu hình Chúa dựng nên, không có cái nào là “trợ tá tương xứng” với con người. Và Thiên Chúa đã phải sáng tạo ra một thọ tạo mới không xuất phát từ “đất” (2,19) mà từ “xương sườn” của “con người” (Adam). Như vậy nam nữ bình đẳng trước Thiên Chúa, có cùng nhân phẩm tương xứng với nhau. Chính khi tôn trọng nhân phẩm của nhau mà con người được lấp đầy lỗ trống mà toàn vũ trụ không lấp nổi.
“Cái trợ tá tương xứng” này là ân huệ Chúa ban, là sáng kiến của Tình Yêu Thiên Chúa giúp con người nên viên mãn. Nhân phẩm con người không phải là sản phẩm phàm nhân do con người ban phát cho nhau. Không quyền lực trần thế nào có quyền đụng tới nhân phẩm con người. Con người khi có được “cái trợ tá tương xứng” thì phải luôn ý thức rằng không phải “cái trợ tá” tự nó lấp đầy được sự thiếu thốn của con người mà là chính Thiên Chúa lấp đầy bằng cách ban cho con người “cái trợ tá tương xứng”.
* Thiên Chúa cho “con người” ngủ mê
Cách nói ngụ ý rằng: không phàm nhân nào chứng kiến tận mắt được hành động của Thiên Chúa. Việc Chúa làm vượt tầm kiểm soát của con người. Con người chỉ nhận biết là Thiên Chúa có hành động nhờ thấy được tỏ tường kết quả của hành động ấy(x.Chúa Nhật XIII B. TIN MỪNG * Chữa lành)
* Yavê Thiên Chúa lấy cái xương sườn (2,22b), phối hợp với c.23 “đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”, bản văn muốn nói tới sự đồng bản tính và bình đẳng giữa người nam và người nữ bởi vì cả hai là cùng một xương thịt; Đồng thời cũng cho thấy tính hỗ tương giữa nam và nữ vì cả hai là thành phần của nhau, không ai tự mình là đầy đủ.
Lưu ý, câu 23 không nói “con người” đặt tên cho sinh vật mới là “đàn bà”, nhưng chỉ nhìn nhận sinh vật mới đó chính là “xương thịt tôi”;
Còn cách nói “nàng sẽ được gọi là đàn bà”, theo Kinh Thánh thì c.23b đó phải được hiểu là: Thiên Chúa sẽ gọi nàng là người đàn bà… (dùng động từ ở thể thụ động để tránh gọi tên Thiên Chúa.
Tóm lại nam nữ đồng bản tính, bình quyền. Quyền bình đẳng này phát xuất từ ý Chúa chứ không từ bất cứ một lý do nào khác. Nam nữ bình đẳng trên phương diện bản tính và nhân vị, chứ còn về chức năng, tài trí, vị thế xã hội… tổ chức cộng đồng thì hai người là trợ tá cho nhau và tùng phục nhau tùy trường hợp chứ không cào bằng mọi lãnh vực được.
* Hôn nhân là ý định của Yavê
Thiên Chúa dẫn người đàn bà đến với con người (2,22b). Thiên Chúa đóng vai “ông mai”. Hôn nhân Công Giáo trước tiên là hoa trái của Tình Yêu Quan Phòng của Thiên Chúa đối với con người. Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc bằng cách trở thành cộng tác viên của Chúa trong việc tác tạo cộng đoàn nhân loại qua việc sinh dưỡng con cái. Do đó, hôn nhân theo kitô giáo chỉ đạt được ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn trong Thiên Chúa.
Trong các mối tương quan phàm nhân, tình yêu vợ chồng là mạnh nhất, trổi vượt hơn hết kể cả tình yêu cha mẹ, con cái: khi đã trưởng thành và gặp được “xương tôi, thịt tôi” thì đôi nam nữ sẵn sàng lìa bỏ những quan hệ trước kia dù thân thiết đến đâu đi nữa, để tách ra lập một gia đình mới. Căn nguyên của sự lôi cuốn mãnh liệt đó chính là Tình Yêu Quan Phòng của Thiên Chúa: Người đã lấy xương sườn của chàng mà tạo nên nàng; rồi đem nàng đến giới thiệu cho chàng; đồng thời soi sáng cho chàng nhận ra nàng là “xương thịt tôi”. Nhờ đó cộng đoàn cơ bản của nhân loại đã được thiết lập. Đó là nền tảng cho sự tồn tại và triển nở của cộng đồng nhân loại để góp phần hoàn tất công trình sáng tạo của Thiên Chúa.
* Cả hai nên một xương một thịt
Cách nói diễn tả tính cách bất khả phân ly của hôn nhân kitô giáo. Đó là điều Thiên Chúa muốn và chúc lành để nó trở nên dấu chỉ cho tình yêu chung thủy không suy suyển của Đức Giêsu đối với Hội Thánh và của Thiên Chúa đối với nhân loại.
TIN MỪNG: Mc 10,2-16
Sau khi tỏ mình cho các môn đệ biết Người là Đấng Mêsia, Đức Giêsu cũng mặc khải luôn con đường Người phải đi để hoàn tất sứ mạng là đường Thập Giá. Hai lần mặc khải Thập Giá, Đức Giêsu đều vấp phải sự chối từ, trốn chạy của đoàn môn đệ. Trong khi đó “Giờ” của Người đã đến gần. Đức Giêsu rời bỏ Galilê và tiến về hướng Giêrusalem, tới miền Giuđa (10,1). Người vẫn tiếp tục sứ vụ rao giảng và đào tạo môn đệ, nhưng việc biểu lộ quyền uy qua phép lạ thì dần dần bớt hẳn (chỉ còn một phép duy nhất chữa anh mù tại Giêricô: 10,46-52). Tin Mừng hôm nay là lời dạy chỉnh sửa đầu tiên của Đức Giêsu tại vùng đất Giuđê bên kia sông Giođan về chủ đề mà mấy người Pharisêu đặt ra cho Người: “chồng có được phép rẫy vợ không?”.
* Họ hỏi để THỬ Đức Giêsu
“THỬ” gợi lại hình ảnh dân Do Thái trong sa mạc không ngừng “thử thách” Yavê và Môsê, xem có Thiên Chúa ở giữa họ hay không dù đã thấy không biết bao nhiêu kỳ công của Người (Xh 17,7; Tv 95,9). Lần này, các Pharisêu lập lại lối mòn của cha ông họ, chống lại Đức Giêsu qua việc dựa vào một điều khoản luật để “thử” Người.
Như vậy qua cụm từ “thử” và “lòng chai dạ đá” = sklêrôkađia (câu 5: dịch sát là “sơ cứng con tim”), Marcô đã dựng lại cả lịch sử chống đối của người Do Thái đối với Thiên Chúa mà chóp đỉnh là việc chống lại Đức Giêsu để hãm hại Người với phương tiện họ dùng là Luật, vốn là ân huệ Thiên Chúa ban để họ trở thành người tự do, dân riêng của Chúa.
Như vậy cũng như xưa kia, Thiên Chúa đã chịu đựng dân Do Thái trong hoang địa để đưa họ vào Đất Hứa, thì nay Đức Giêsu chấp nhận gánh vác nơi bản thân Người tất cả những chống đối, cứng lòng của dân Chúa mọi thời với tấm lòng khoan dung là mong họ hoán cải đón nhận ơn giải thoát.
* Đức Giêsu hỏi ngược lại: “Môsê đã TRUYỀN DẠY GÌ?”
Họ đáp lại: Môsê đã CHO PHÉP viết chứng thư để rẫy vợ
Thay vì trả lời trực tiếp, Đức Giêsu sử dụng lối sư phạm quen thuộc của Người là hỏi ngược lại đối thủ. Mục đích là để đối thủ phải phơi bày tâm can (điều kiện tiên quyết để đón nhận được ơn tha thứ).
Câu hỏi của Đức Giêsu nhấn mạnh vào động từ “TRUYỀN DẠY” = êntêllômai cùng gốc với danh từ “êntole” = “lệnh truyền”, “giới răn” hàm ý đó là một mệnh lệnh, thánh chỉ đến từ Thiên Chúa.
Nhóm Pharisêu lúng túng, vì họ không trả lời được mà phải đáp trệch đi: Môsê “CHO PHÉP” = êpitrêpô là động từ hàm ẩn một ý nghĩa nhượng bộ, chỉ có giá trị giới hạn trong một phạm vi nào đó, trong một giai đoạn, trong một trường hợp cụ thể nào đó thôi (Paroles sur le chemin B p.432/3).
Khi cố ý sử dụng hai động từ khác nhau như thế cho cùng một đề tài, Marcô muốn tố cáo các Pharisêu đã áp dụng sai lạc luật Chúa là bỏ đi lệnh truyền của Thiên Chúa để chạy theo tập tục phàm nhân (x. Mc 7,8-9, hai câu này là riêng của Marcô). Với hàm ý ấy thì tục rẫy vợ đã đến lúc phải hủy bỏ.
* Điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, con người không thể phân ly
Trước tiên Đức Giêsu điều chỉnh lại cái sai của “luật Môsê cho phép” bằng lời giải thích tại sao Môsê lại cho phép viết li thư: đó là vì sự cứng lòng của dân (10,5); Đồng thời Đức Giêsu đưa luôn ra giải pháp là phải trở về với ý định nguyên thủy của Thiên Chúa về hôn nhân (10,6) dựa trên nền tảng là chính lời Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh (Mc 10,7-8; St 1,27c; 2,24).
Và Đức Giêsu kết luận là không được li dị với hai luận cứ:
- Hai người đã trở nên một xương một thịt (10,8b)
- Đó là ý định của Thiên Chúa: điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly (10,9).
Vậy câu đáp dứt khoát của Đức Giêsu là không được rẫy vợ. Người phá bỏ Luật Môsê? Không! Đức Giêsu phân tích giải thích cho thấy Môsê vì sao phải cho phép viết li thư. Vấn đề không phải là sự kiện mà là ý nghĩa của sự kiện; Đồng thời Người nại vào một thế giá còn lớn hơn Môsê và Luật: đó là ý định nguyên thủy của Thiên Chúa khi tạo dựng con người và vũ trụ.
Việc Đức Giêsu dám chỉnh sửa lại điều mà Luật Môsê cho phép làm hàm ý Người trổi vượt hơn Môsê; Và khi lập lại kỷ cương của công trình sáng tạo nguyên thủy, Người kín đáo tỏ mình là Thiên Chúa.
* Ý nghĩa của việc nhượng bộ cho phép trao li thư rẫy vợ
Nghiên cứu tập tục hôn nhân Do Thái cho thấy rằng việc trao li thư là một cách bảo vệ người phụ nữ hơn là để khuyến khích ly dị. Vấn đề là như thế này: khi lấy chồng cô gái có được một số tiền gồm:
- Tiền Mohar = tiền cheo. Đây là số tiền nhà trai phải nộp cho cha cô gái trước khi rước dâu. Số tiền sẽ được hai bên thỏa thuận. Nếu tiền Mohar chưa giải quyết xong và chưa trao trả đủ thì không được rước dâu (lý do chàng rể đến chậm trong dụ ngôn “mười trinh nữ”).
- Của hồi môn: là của cải gia đình cha mẹ ruột cho con gái khi cô lấy chồng.
- Tư trang: vật dụng riêng của cô gái.
Tất cả các món trên thuộc quyền sở hữu riêng của cô gái. Khi về nhà chồng, cô mang theo tất cả, hoặc để lại một phần Mohar cho cha ruột. Người cha có thể làm ăn và hưởng lợi từ Mohar đó, nhưng quyền sở hữu vốn vẫn thuộc về cô gái. Khi cha ruột chết thì phần vốn Mohar đó được trả lại cho cô, hoặc cô có thể xin lại trước nếu gặp túng quẫn.
Còn tất cả những gì cô mang về nhà chồng đều thuộc quyền quản lý của chồng. Chồng toàn quyền khai thác và hưởng lợi từ nguồn vốn đó. Tuy nhiên cô gái vẫn là chủ của số vốn đó. Khi chồng chết, tất cả vốn ấy quy hồi lại với cô và sau đó được để lại cho con của cô. Và nếu thủ tiết, cô còn được hưởng mọi gia sản của chồng.
Trường hợp bị chồng trao li thư: người chồng phải trả lại cho cô toàn bộ số vốn mà cô đã mang theo khi về nhà chồng. Điều này không dễ thực hiện, nhất là đối với những nhà nghèo hoặc bị chết vốn trong công việc làm ăn… Vì thế viết li thư là chuyện bất đắc dĩ.
Vậy Luật buộc phải viết và trao li thư là một phương thức hữu hiệu bảo vệ những quyền căn bản của người phụ nữ. Nó không nhằm ủng hộ, khích lệ cánh đàn ông li dị, bạc đãi vợ. Đây là một tiến bộ lớn trong một xã hội mà nền luân lý còn thô sơ và quá trọng nam khinh nữ (DEB - “Mariage”; Nước Palestin vào thời Đức Giêsu: các thể chế của Cựu Ước I)
* Nền tảng của việc không được li dị
Đức Giêsu nại vào thế giá của chính Thiên Chúa khi nhắc lại St 2,24, đồng thời cho thêm lời giải thích (Mc 10,8b-9). Vậy Đức Giêsu chính là Thiên Chúa đến tái lập lại kỷ cương của công trình sáng tạo liên quan đến hôn nhân, qua lời tuyên bố: hôn nhân là do Thiên Chúa thiết lập; và là một vợ một chồng loài người không thể phân ly: “điều gì Thiên Chúa thiết lập thì con người không thể phân ly” (Mc 10,9)
TÓM LẠI
Trong công trình sáng tạo, Thiên Chúa muốn con người sống hôn nhân một vợ một chồng và trong thực tế cho đến hôm nay, phần đông nhân loại cũng đang sống như vậy (DEB “Mariage”).
Một vài thể chế cũng như một số luật cho phép có nhiều vợ hoặc nhiều chồng, hoặc cho phép li dị, thật sự chỉ là những nhượng bộ trước những đòi hỏi của các phe nhóm có quyền lực muốn đòi hỏi những quyền lợi lệch lạc cho số nhỏ của phe nhóm, giai cấp của họ.
Luật cho phép trao li thư, chấp nhận đa thê, li dị (cũng như ngày nay một số quốc gia đã hợp pháp hoá việc ngừa thai, phá thai, hôn nhân đồng giới…) là một bước thụt lùi nguy hiểm của đời sống luân lý xã hội, đi ngược lại quá trình tiến hoá của nhân loại.
Một số nhà cầm quyền phải nhượng bộ để có được sự bình an, ổn định trước mắt, bảo vệ cho cái ghế quyền lực của phe đảng họ. Nhưng đó là cái ổn định ảo, phù du, “xây nhà trên cát”. Vì ma quỷ là kẻ tham lam gian dối, “được voi đòi tiên”…Nếu cứ nhượng bộ riết thì sẽ tới nguy cơ đời sống đôi lứa sẽ rơi về lại tình trạng “bầy đàn” như thời tiền sử: cứ thoả mãn được nhục dục, cái khoái lạc trước mắt là OK (ô kê). Cái xấu lan tràn, tới một mức nào đó, mọi sự sẽ đảo lộn: sai thành đúng, đúng thành sai… Cả xã hội cứ ru ngủ mình sống trong giả trá. Nguy cơ diệt vong là không sao tránh khỏi.
Đức Giêsu can đảm chặn đứng lại dòng chảy của nền văn minh sự chết đó, khi tái lập lại hôn nhân một vợ một chồng. Thập Giá của Người là cái neo vững chắc giữ nhân loại khỏi rơi vào thác diệt vong. Gia đình Kitô hữu phải can đảm cùng với Đức Giêsu, qua đời sống hôn nhân đúng như Ý Chúa của mình, xây dựng lại nền đá tảng cho toà nhà nhân loại.
MÙA THƯỜNG NIÊN 27B
St 2, 18-24
Mc 10, 2-16
TÌM HIỂU 2 BÀI ĐỌC
Chủ điểm phụng vụ
Chủ đề nổi bật của phụng vụ Lời Chúa hôm nay là sự lớn lao, diệu kỳ của tình yêu nhân loại, cụ thể là tình yêu hôn nhân. Tình yêu ấy đã làm nên việc diệu kỳ là biến đổi hai con người vốn xa lạ, khác nhau về mọi mặt từ cơ thể, tính tình, năng lực...lại trở nên “một xương một thịt” gắn bó với nhau đến trọn đời. Nó mãnh liệt đến độ khiến người trong cuộc dám từ bỏ mọi tương quan trước đó kể cả tương quan với cha mẹ ruột để đến với nhau, tạo thành một cộng đoàn mới làm nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của nhân loại.
Trong đức tin Kitô giáo, tình yêu nhân loại ấy lại có cội nguồn thần linh, phát xuất từ Thiên Chúa: chính Thiên Chúa đã muốn con người sống thành cộng đoàn yêu thương nhau theo như hình ảnh Thiên Chúa; Con người sống một mình không tốt: chính Thiên Chúa nói như thế; Và chính trong tư cách liên kết cộng đoàn như thế, con người mới thực sự là “bá chủ vũ trụ, và sống trọn vẹn hạnh phúc là “hình ảnh Thiên Chúa”.
Tiếc thay con người đã sa ngã, kéo theo sự đổ vỡ trong tình yêu hôn nhân: xương tôi thịt tôi” trong sự sai phạm. Con người từ đó gặp nhiều khó khăn để có thể yêu thưong nhau trọn vẹn và sống trọn đời với nhau. Rồi dần dần con người muốn rời xa nhau, tùy tiện đưa ra những qui định chiều theo dục vọng, cho phép ruồng rẫy nhau mà sau này Đức Giêsu gọi là “những nhượng bộ vì sự cứng lòng” của nhân loại.
Khi Đức Giêsu đến, Người mới vạch ra những lệch lạc từ phía con người và hồi phục lại giá trị thần linh của tình yêu hôn nhân: ban đầu của công trình sáng tạo, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ (St 1, 27)...cả hai sẽ thành một xương một thịt (St 2, 23-24). Và Đức Giêsu củng cố thêm “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, con người không thể phân ly” (Mc 10, 9)
Vậy Lời Chúa hôm nay đề cập đến chủ đề hôn nhân, đặc biệt là cội nguồn thần linh và tính cách bất khả phân ly của hôn nhân, bởi vì đó là Thánh Ý từ muôn đời của Thiên Chúa. Sự bền vững ấy chặt chẽ đến độ Kinh Thánh diễn tả bằng một hình ảnh ngoa dụ “cả hai nên một xương một thịt”. Do đó không có lý do hay uy quyền phàm trần nào – cho dù là đến từ cơ chế xã hội hay từ mối dây huyết nhục cha mẹ con cái (từ bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình”) có thể hủy bỏ được khế ước hôn nhân.
Bài đọc 1 thuật lại việc Thiên Chúa dựng nên người nữ từ xương sườn của người nam, rồi đem nàng đến giới thiệu cho Con Người (Adam): và con người đã vui mừng nhận ra ngay đó là “trợ tá tương xứng” của mình, là xương thịt của mình. Và tác giả Kinh Thánh đã kết luận: mối dây liên kết vợ chồng có giá trị vượt trên mọi tương giao phàm trần khác, và bất khả phân ly “bởi thế người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành 1 xương 1 thịt”.
Trong Tin Mừng các biệt phái chất vấn Đức Giêsu về vấn đề rẫy vợ. Họ dựa vào Môsê để biện minh cho lập trường được rẫy vợ của họ. Đức Giêsu bác bỏ điều ấy dựa vào ý định của chính Thiên Chúa ngay từ thủa ban đầu lúc tạo dựng nên con người tiên khởi. Sự đồng ý của Môsê chỉ là 1 nhượng bộ vì sự cứng lòng của con người. Bây giờ, Đức Giêsu là người đến nhân danh Thiên Chúa để thiết lập lại tính bền vững và 1 vợ 1 chồng của giao ước hôn nhân. Từ đó, Đức Giêsu tuyên bố: hôn nhân có tính bất khả phân ly vì đó là do Thiên Chúa tác hợp.
BÀI ĐỌC I : St 2,18-24
Văn mạch
11 chương đầu sách Sáng thế là những suy tư khôn Ngoan trong đức tin liên quan đến những vấn đề nhân sinh muôn thưở của kiếp người: nguồn gốc, cùng đích, ý nghĩa của đời người: các vấn đề khổ đau, hạnh phúc…St 1-2 nói về công trình sáng tạo: St 3 về sa ngã của cặp người nguyên thủy: Từ đó sự dữ thâm nhập vào trần gian và hoành hành làm khổ nhân loại: St 4 thuật truyện Cain giết Abel, sự chết xuất hiện cho cá nhân: Rồi St 6-9 là Hồng Thủy, cái chết tập thể do tội: St 11,1-9 nói về tháp Babel, con người chia rẽ không còn thống nhất nữa. Xen giữa các biến cố là các bản gia phả nối kết các thời kỳ lại với nhau: St 5 nối Adam với thời Noê; St 10 nối Noê với thời tháp Babel và kết thúc St 11,10-32 nối thời Babel với Abram.
Bài đọc đọc 1 là trích đoạn của St 2, bản văn cựu trào nói về công trình sáng tạo. Thiên Chúa được như nhân hóa, trình bày như một người thợ, một nông dân đã dựng nên Con người và vườn Êđen rồi trao cho Con người canh tác (2,4b-15); Yavê trao ban tất cả cho Con người (16) nhưng cũng cho thấy giới hạn của nó (c.17).
Phần tiếp theo trình bày Con người trong tương quan với các động vật và với nhau đặc biệt trong tương quan hôn nhân (2, 18-25). Đó chính là bài đọc 1 hôm nay trừ c.25.
CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH
1. Ý định từ muôn đời của Thiên Chúa đối với con người trong công trình sáng tạo của Chúa (St 2,18)
* Con người không thể hiện hữu như một cá thể cô đơn: “con người sống một mình không tốt”
* Dự tính thần linh: “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó”.
► “Con người sống một mình không tốt” (2,18d) (Xem Bài Suy Niệm).
Ta sẽ làm: việc con người có được cộng đoàn (trợ tá tương xứng), sống được khía cạnh xã hội của mình là HỒNG ÂN THIÊN CHÚA. Chính Thiên Chúa thấy “con người sống một mình không tốt”, rồi cũng chính Thiên Chúa có sáng kiến làm ra “một trợ tá tương xứng”. Do đó chỉ sống được hồng ân “cộng đoàn”, mỗi người là “trợ tá tương xứng” của nhau trong CHÚA với lòng biết ơn của một thọ tạo đối với Đấng tạo tác ra mình, ban “trợ tá”, cộng đoàn cho mình. Ngoài Thiên Chúa, các liên minh nhân loại đều mang tính nhất thời, không bền vững.
Trợ tá tương xứng: theo văn mạch, đọc tới cc 22- 24, ta dễ dàng hiểu “trợ tá” chính là người nữ và bản văn nhấn tới hôn nhân. Tuy nhiên về mặt từ ngữ “trợ tá” = ‘ezer trong tiếng Hipri là một danh từ giống đực, số ít. Vậy từ ngữ đó không nhất thiết chỉ có một ý nghĩa duy nhất là “người nữ”, là “đàn bà”. Vì từ “đàn bà” là một từ khác sẽ gặp ở c.23. Vì thế ta có thể hiểu ‘cái trợ tá” đó phải là một con người là “tha nhân”. Vậy khi Chúa muốn cho con người có “một trợ tá tương xứng” là Chúa muốn nhắn nhủ: con người chỉ hạnh phúc trọn vẹn và đạt được đích ơn gọi mình khi có tình người, sống hài hòa với người khác; mà tình người đích thực chỉ có trong Thiên Chúa, vì chính Chúa đã dựng nên người đàn bà và đem đến cho con người. Chính Chúa thấy sự thiếu thốn của con người và Người tìm ra cách lấp đầy. Vậy không phải “cái trợ tá” tự nó lấp đầy được sự thiểu thốn của Con người mà chính Chúa lấp đầy bằng cách ban cho Con người “cái đương đối”, “cái trợ tá” đó (xem thêm Bài Suy Niệm).
2. Từng bước, Thiên Chúa thực hiện ý định của Người (St2, 19-23)
2.1 Giai đoạn 1
♦ Dựng nên các động vật và trao cho con người quyền làm chủ chúng qua việc đặt tên: “hễ Con người gọi mỗi sinh vật là gì thì tên nó là thế” (19)
♦ Phản ứng của Con người:
- Đón nhận hồng ân, vâng lời “ đặt tên cho mọi thứ”
- nhưng không tìm được trong đó một trợ tá tương xứng cho mình (20)
Đặt tên cho ai, cho cái gì tức là làm chủ người ấy, vật ấy. Mọi vật là do Chúa dựng nên nhưng quyền làm chủ chúng, Chúa ban cho con người. Nhưng con người chỉ làm chủ chúng trong tương quan tùy thuộc vào Thiên Chúa, chứ không như Đấng tạo ra chúng, độc lập với Thiên Chúa.
Không tìm được một trợ tá tương xứng: con người cao quý trên mọi tạo vật hữu hình khác. Chỉ tình người, tình Chúa mới lấp đầy được cái khát khao của con người. Dù chiếm đoạt được cả vũ trụ mà thiếu Chúa, thiếu tình người thì con người vẫn không trọn vẹn.
2.2 Giai đoạn 2
* Dựng nên người đàn bà: cho Con Người ngủ mê, lấy cái xương sườn đã rút ra từ Con người làm thành một người đàn bà (21 – 22a).
*Làm mai: dẫn đến với Con người (22b)
* Phản ứng của Con người
- Vui mừng nhận ra đây đúng là trợ tá tương xứng “xương bởi xương tôi…” (23a).
- Nhận ra người đàn nà đồng bản tính, bình đẳng với mình: “Nàng sẽ được gọi là…” (23b).
Yavê Thiên Chúa cho Con người ngủ mê
(xem bài suy niệm)
Yavê Thiên Chúa lấy cái xương sườn:
(xem bài suy niệm)
Về mặt ngôn ngữ: đây là lối chơi chữ Do Thái: ish = đàn bà, cả hai từ có cùng ngữ căn chứ không hề có nghĩa đàn ông là cội nguồn của đàn bà. Cái gốc chung của cả hai đều là Thiên Chúa. Tóm lại sứ điệp chính là nam nữ cùng bản tính, bình quyền. Cái bình đẳng này phát xuất từ ý Chúa chứ không từ bất kỳ một lý do nào khác. Nam nữ bình đẳng trên phương diện bản tính và nhân vị. Còn về chức năng, tổ chức sinh hoạt xã hội, tài trí… Thì hai người là trợ tá cho nhau và tuỳ phương diện người này phải phục tùng người kia không thể cào bằng cho cả hai trong mọi mặt được.
3. Hệ quả cụ thể của ý định Thiên Chúa: hình thành cộng đoàn gia đình (St 2, 24)
♦ gia đình mới: bởi thế người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình (24a)
♦ tính cách bất khả phân ly: cả 2 thành 1 xương 1 thịt (245)
Hôn nhân là ý định của Ya vê (c. 24)
Câu 24 hợp với chi tiết" làm mai ở câu 22b là nền tảng của hôn nhân Công Giáo
Xem Bài Suy Niệm
“cả hai thành 1 xương 1 thịt (c. 24b)
Xem Bài Suy Niệm
TÓM KẾT
Bản văn mời chúng ta chiêm ngắm tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, từng bước một Người lo cho con người đầy đủ mọi sự để con người được hạnh phúc trọn vẹn và nhân loại phát triển. Cụ thể là từ thuở đời đời, Thiên Chúa đã không dựng nên con người như một hữu thể đơn độc. Người muốn con người sống thành cộng đoàn yêu thương theo hình ảnh Chúa, trong đó gồm những con người bình đẳng nhau về bản tính, phẩm giá và tôn trọng nhau như “xương tôi thịt tôi”.
Cộng đoàn cơ bản là gia đình đặt nền kết hợp giữa một người nam và một người nữ nhờ bởi sợi dây liên kết bất khả phân ly là hôn nhân phát xuất từ thánh ý Chúa và từ tình yêu giữa hai người được diễn tả bằng hình ảnh “cả 2 nên một xương một thịt”.
Phụng vụ hôm nay nhấn mạnh trên khía cạnh hôn nhân này.
TIN MỪNG: Mc 10,2 -16
Văn mạch
Đức Giêsu và các môn đệ đang trên đường tiến về Giêrusalem để hoàn tất sứ vụ cứu độ bằng con đường Thập giá. Thời giờ còn quá ít mà các môn đệ chưa tiến bộ là bao: ngoài miệng họ đã tuyên xưng Người là Đấng Mêsia (8,29), nhưng trước mặc khải Thập giá lần một họ đã vấp ngã (8,31-33). Vì thế Đức Giêsu không muốn hoạt động công khai với đám đông nữa, để dành trọn thời gian còn lại cho việc đào tạo các môn đệ hầu giúp họ hiểu và đón nhận con đường Thập giá (9,30-31: báo Thập Giá lần 2).
Nhưng rồi khi vừa đến Giuđê thì Người lại bị đám đông vây kín (10,1), và Đức Giêsu đã phải hoạt động “như thường lệ” (10,1c) nghĩa là đối đầu với các biệt phái (10,2-12) và dạy dỗ dân chúng (10,13-31). Điều đáng lưu ý là ở Giuđê, khi đến với Đức Giêsu, đám đông không mang theo các bệnh nhân, có lẽ thời giờ còn quá ít, các hoạt động minh hoạ đành phải bỏ để chỉ chú tâm vào cái chính yếu là điều chỉnh cái sai (tranh luận với các thủ lĩnh) và mặc khải điều thiết yếu (dạy dỗ): tại Giuđê, Đức Giêsu chỉ làm một phép lạ duy nhất là chữa anh mù tại Giêricô (10,46-52). Đây cũng là cách Đức Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ trước khi tỏ mình trọn vẹn qua cuộc khải hoàn vào Giêrusalem (11,1-11) và qua Thập giá (15,39). Nhưng đau lòng thay, các môn đệ cũng chẳng tiến bộ gì trước mặc khải Thập giá lần 3 (10,32-34), các môn đệ vẫn còn trong u tối tranh nhau địa vị ngồi bên tả hữu (10,35-41). Đức Giêsu phải điều chỉnh (10,42-45) và cố mở mắt các ông bằng cách lần cuối cùng sử dụng dấu lạ thiên sai: mở mắt anh mù.
Tin Mừng hôm nay là trình thuật mở đầu cho sứ vụ của Người tại Giuđê, ở bên kia sông Giođan: tranh luận với các biệt phái về vấn đề rẫy vợ (10,2-12), kèm theo một lời dạy cho các môn đệ về thái độ phải có đối với trẻ em (10,13-16), phụng vụ cho phép bỏ phần này.
CẤU TRÚC và CHÚ THÍCH
1. Vấn nạn của biệt phái (Mc 10,2)
* Nội dung: có được phép rẫy vợ hay không?
* Mục đích: để thử Đức Giêsu
Họ hỏi để THỬ Đức Giêsu:
(Xem Bải Suy Niệm)
2. Lời đáp của Đức Giêsu (Mc 10,3-9)
* Đức Giêsu hỏi ngược lại: Môsê đã TRUYỀN DẠY gì?
* Họ đáp: Môsê đã CHO PHÉP viết chứng thư để rẫy vợ.
* Đức Giêsu điều chỉnh:
giải thích tại sao Môsê lại cho phép viết ly thư: vì sự cứng lòng của dân (5)
và đưa ra giải pháp: phải trở về với ý định nguyên thuỷ của Thiên Chúa (6)
– trích lời Kinh Thánh minh hoạ “vì thế ... một xương một thịt” (7-8")
– rồi đưa 2 lý do không được ly dị:
• Vì 2 người đã nên 1 xương 1 thịt (8b)
• Vì đó là Ý Thiên Chúa: Người đã phối hợp con người không thể phân ly (9)
Đức Giêsu hỏi ngược lại: "Môsê đã TRUYỀN DẠY GÌ ? ". Họ đáp "Môsê đã CHO PHÉP viết chứng thư để rẫy vợ.
xem Bài Suy Niệm
Điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, con người không thể phân ly:
xem Bài Suy Niệm
Ý nghĩa của việc nhượng bộ CHO PHÉP trao ly thư rẫy vợ
xem Bài Suy Niệm
Nền tảng của việc không được li dị
xem Bài Suy Niệm
3. Giải thích luân lý ứng dụng (Mc 10,10-12)
♦ Đối tượng: các môn đệ khi về nhà (10)
♦ Hậu quả luân lý cho cả hai phía: vợ lẫn chồng:
- Ai rẫy vợ và cưới vợ khác là ngoại tình (11)
- Ai bỏ chồng và cưới chồng khác cũng là ngoại tình (12)
Hàm ý phải sống 1 vợ 1 chồng không được bỏ nhau
Lời dạy trên chỉ áp dụng cho các môn đệ (c.10) là những người đã tin vào Đức Giêsu. Còn đối với các người Do thái, Đức Giêsu chỉ nói lên một sự thật, vạch ra những sai trái của họ: Người không chống lại luật (các LỆNH TRUYỀN); Người chỉ chống lại các nhượng bộ ( CHO PHÉP) và nhất là chống lại cái nguyên nhân đưa tới giải pháp tạm “phải nhượng bộ” ấy: sự cứng lòng của người Do thái. Thêm vào đó Đức Giêsu còn đưa ra Ý ĐỊNH TỪ BAN ĐẦU của Thiên Chúa, thế giá còn lớn hơn cả Môsê, do đó bọn họ phải câm miệng.
Còn đối với các môn đệ, sự thật ấy trở thành một luật bắt buộc: bất kỳ ai rẫy vợ, bỏ chồng và cưới người khác là ngoại tình. Đây là cách ứng dụng mở rộng vào luân lý lệnh truyền thần linh nguyên thuỷ “cấm rẫy vợ”.
Ai bỏ chồng, cưới chồng khác…(c.12): câu này là riêng của Marco, không có trong Mattheu và Luca. Tin Mừng Marco được viết cho độc giả dân ngoại, có lẽ được soạn ở Rôma sau cái chết của Phêrô (TOB).
Trong vấn đề ly dị, người dân ngoại (một số các dân tộc, có lẽ có cả dân Rôma) cho phép vợ có quyền ly dị chồng (x. “các định chế của Cựu Ước I trang 90).
Trong c.12, từ ngữ được dùng cho thấy đàn bà cũng có quyền ly dị chồng. Điều này không thể có đối với người Do thái thời Đức Giêsu.
Động từ được dùng là apôluo = rẫy bỏ, ly dị.
-trong c.11 là apôlusei, aorist subj
-trong c.12 là apôlusasa, aorist, ptc, fém.
Sự thích nghi của Marco khiến ta nghĩ rằng các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đang đương đầu với vấn đề ly dị trong các thành viên của mình. Thật vậy, với một xã hội thụ hưởng, buông thả của một đế quốc đang hùng mạnh về vật chất như Rôma thì tệ nạn này lan rộng và được dung dưỡng là điều không có gì lạ.
Giáo Hội sơ khai đã nắm vững giáo lý của Đức Giêsu và đã áp dụng vào trong hoàn cảnh mới của mình.
4. Giáo huấn về thái độ phải có để được vào Nước Trời (Mc 10, 13-16)
♦ Sự kiện: người ta đem trẻ em đến với Đức Giêsu để Người chạm tay vào chúng
♦ Phản ứng môn đệ: la rầy họ
♦ Phản ứng Đức Giêsu:
- đối với môn đệ: bực mình, trách “cứ để trẻ đến với Thầy ...” (14-15)
- đối với trẻ em: ôm lấy chúng và đặt tay chúc lành cho chúng (16)
Đoạn này không nằm trong ý chính của phụng vụ hôm nay. Thoạt nhìn dễ tưởng đoạn này là một giáo huấn về thái độ phải có đối với trẻ em. Nhưng c.15 giúp nhận ra trọng tâm vấn đề: làm cách nào để vào được Nước Thiên Chúa? Phải đón nhận với tâm hồn trẻ thơ, nghĩa là hoàn toàn thọ ơn cách nhưng không, chẳng cậy dựa chút nào vào công nghiệp của mình. Cái sai lầm của người Do thái, đặc biệt nhóm biệt phái, là tưởng rằng có thể MUA được Nước Thiên Chúa bằng công nghiệp nghĩa là giữ Luật, họ tưởng là có thể quản lý kể cả làm chủ và thao túng ơn Chúa theo ý họ. Nối với các câu trước, cc 13-16 mời thính độc giả thay đổi não trạng đón nhận sứ điệp Đức Giêsu về hôn nhân: không ly dị. Đó là một trong những điều kiện để hưởng được hồng ân Nước Thiên Chúa do Người mang đến.
TÓM KẾT
Sứ điệp chính hôm nay đề cập đến chuyện rẫy vợ. Đối với người do thái, trao ly thư cho người vợ mà mình không còn thích nữa là chuyện được phép làm. Tuy nhiên họ vẫn không ngừng tranh cãi nhau về những trường hợp phải ly dị: trường phái Hillel phóng khoáng hơn cho rằng được ly dị trong mọi trường hợp. Còn nhóm Shammai thì nghiêm khắc hơn chỉ cho ly dị trong một số trường hợp thôi. Nhóm biệt phái muốn thử xem Đức Giêsu theo lập trường nào. Thật bất ngờ Đức Giêsu chọn giải pháp không được ly dị.
Họ dựa vào thế giá của Môsê, Đức Giêsu dựa vào ý định nguyên thuỷ của Thiên Chúa: bản văn mời chúng ta quay về Thánh Ý từ muôn đời của Thiên Chúa, chứ đừng thoả mãn dục vọng trần thế bằng những thoả hiệp, nhượng bộ qua các điều khoản pháp lý cục bộ, giới hạn để rồi sống trong cái an toàn giả dối xa đường lối Thiên Chúa. Vì vậy lập trường dứt khoát của Đức Giêsu là không ly dị, không được trao ly thư. Đối với các môn đệ, Đức Giêsu còn thiết đặt một nền luân lý Kitô về hôn nhân (cc. 11-12). Và để vào được Nước Thiên Chúa, người môn đệ cũng như dân ngoại được mời thay đổi não trạng, đón nhận Nước Thiên Chúa như một em bé. Cụ thể là đón nhận lệnh truyền không ly dị của Đức Giêsu trong đơn sơ tuân phục.
Pet. Đình Long, FSC