CHIỀU KÍCH SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ CỦA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN
.jpg)
CHIỀU KÍCH SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ
CỦA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN
I/ CHÚNG TA ĐƯỢC GỌI ĐỂ TRUYỀN GIÁO
1. Hiểu Sứ Vụ (Missio = Mission) Trước Hết Là Loan Báo Tin Mừng
Theo nguyên ngữ La-tinh, “missio” bắt nguồn bởi động từ “mittere” có nghĩa: gửi đi, sai đi, phái đi. “Missio” có nghĩa là truyền giáo, cũng có nghĩa là sứ vụ, người được sai đi thực thi sứ vụ. Trong Tân ước, tiên vàn “missio” ám chỉ việc Ðức Giêsu là Ðấng được Chúa Cha sai đến; Ngài đã áp dụng những lời của tiên tri Isaia để diễn tả sứ vụ của Người: Thần Khí Chúa đã sai tôi đi... (x. Lc 4:18). Ðức Giêsu cũng đã gọi các môn đệ, tuyển chọn các ông và “sai” các ông “ra đi” (x. Mc 3:13-19);
Trước khi về trời, Đức Giêsu để lại cho các môn đệ lệnh truyền: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mt 28:19). Như thế, Đức Giêsu trao phó sứ vụ của Ngài cho các Tông đồ, và qua các Tông đồ trao cho Giáo Hội (x. Ga 20:21). Do đó, toàn bộ sứ vụ của Giáo Hội là việc được sai đi và không ngừng được sai đi loan báo Tin Mừng (Mc 16:15) - nghĩa là làm cho mọi người nhận biết Ðức Kitô, đi theo Chúa Kitô, xây dựng cộng đoàn và mở rộng Giáo Hội (x. Rm 1:1; 1Cr 1:17; Gl 1:6.7.11). Từ đó, các Kitô hữu, được trao ban từ Bí tích Rửa tội; và được thúc đẩy bởi ơn Chúa Thánh Thần qua việc lãnh nhận Bí tích Thêm sức, mỗi người đều có sứ vụ ra đi loan báo về Nước Thiên Chúa và kêu gọi mọi người hoán cải và tin vào Tin Mừng.
Như thế, làm sứ vụ trước hết là loan báo Tin Mừng, nghĩa là minh nhiên nói về Chúa về Nước Thiên Chúa cho mọi người.
Sứ vụ Loan báo Tin mừng: “Chính mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi nhắc nhở rằng chúng ta được dựng nên theo hình ảnh trong sự hiệp thông của Thiên Chúa, vì thế chúng ta không thể tự mình đạt được sự sung mãn hoặc tự cứu mình. Từ trung tâm của Tin Mừng, chúng ta nhận ra sự kết nối mật thiết giữa việc Loan báo Tin mừng và thăng tiến con người, mà nhất thiết phải được diễn tả và phát triển trong mọi hoạt động truyền giáo. Việc chấp nhận lời công bố ban đầu, mời chúng ta đến để được Thiên Chúa yêu thương và yêu lại Ngài với tình yêu mà Ngài thông truyền cho chúng ta, gây ra trong cuộc sống và hành động của chúng ta một đáp trả đầu tiên và cơ bản: mong muốn, tìm kiếm và quan tâm đến hạnh phúc của những người khác.” 1
2. Sứ Vụ Và Thừa Tác Vụ Trong Đời Sống Thánh Hiến
(Trong bài này chúng ta dùng từ “sứ vụ” thay vì từ “sứ mạng”)
2.1/ Phân Biệt Sứ Vụ (Mission) Và Thừa Tác Vụ (Ministry) Trong Đời Tu:2
Sứ vụ, đó là mục đích của việc sáng lập và duy trì một nhóm tu hành. Sứ vụ, đó là lý do hiện hữu. Sứ vụ nảy sinh trong căn tính tập thể của nhóm và trong đặc sủng của nhóm, kể từ thời đầu cho đến hôm nay. Xét theo yếu tính, nó được nối kết với sứ vụ của Đức Giêsu. Một phần sứ vụ của Đức Giêsu đã được ủy thác cho một Hội Dòng hoặc đã được Hội Dòng đảm đương. Đó thực sự là lý do, lý do hiện hữu của nhóm này. Sứ vụ là yếu tố chủ chốt nơi căn tính của nhóm.
Thừa tác vụ thì phát sinh từ sứ vụ: đó là cách thức, phương tiện hoặc phương pháp cho phép đi vào sứ vụ và thể hiện sứ vụ. Nó xác định phương pháp mà Hội Dòng sống sứ vụ của mình: đó là điều mà Hội Dòng phải thực hiện.
Sứ vụ của một Hội Dòng, xét về yếu tính, đó là việc thực hiện sự sai đi (missio) của Đức Giêsu, ngang qua Giáo Hội, để thi hành một khía cạnh nào đó trong sứ mạng của Đức Giêsu, nhận từ Chúa Cha: “như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21 ). “Sứ vụ thì ít thay đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác, còn tác vụ thì thay đổi theo thời gian, khi thế giới xuất hiện những nhu cầu mới và các phương pháp mới.” 3
“Sứ vụ chính là thực tại trung tâm ngay từ buổi khai sinh ra dòng tu […] Khi trở về với đặc sủng của Đấng Sáng Lập, các Hội dòng tông đồ tìm lại được sứ vụ nền tảng của mình.” 4
Sứ vụ cũng có thể bị che lấp bởi những thừa tác vụ. Chúng ta cũng phải đề phòng khuynh hướng muốn đồng hoá sứ vụ với những định chế và công cuộc được lập nên để thi hành sứ vụ. Cần nhận ra rằng đó là những chiến lược chứ không phải sứ vụ. Chúng ta có thể thay đổi chiến lược để theo đuổi sứ vụ cho tốt hơn.5
Căn tính đời tu của chúng ta phải bén rễ sâu trong sứ vụ chứ không được bám vào các công cuộc, các hoạt động hay các định chế … Chúng ta chỉ có thể khám phá lại căn tính của Hội Dòng trong lý do hiện hữu của sứ vụ chúng ta.6
2.2/ Người Thi Hành Sứ Vụ (Ministers) / người ra đi truyền giáo – “môn đệ thừa sai – Missionaries”.
Vì loan báo Tin Mừng cứu độ là việc trọng yếu, đến từ trên và phải được chu toàn với một số điều kiện. Kinh Thánh cho chúng ta biết Chúa Cha sai Con mình đến (x. Dt 5:5).... Chúa Giêsu sai các môn đệ đi..., nên không ai có thể tự sai phái mình đi, mà phải nhận sứ vụ ấy từ người có thẩm quyền trong Giáo Hội; Thánh Phaolô cho thấy: “Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?” (Rm 10:15a).
Để “ra đi thi hành sứ vụ” thì ta phải được sai phái, lệnh truyền sai phái “ra đi loan báo Tin Mừng” hầu như không đề cập đến yếu tố địa lý, mà chú trọng đến hành động “ra đi” – “loan báo”. Do vậy, thừa tác viên được mời gọi có thể ra đi – loan báo ở vùng ngoại biên, cũng có thể ra đi – loan báo ngay tại nơi mình đang hiện diện, với chính tác vụ mà mình thi hành, nhưng cần nhớ cái cốt yếu của thừa tác vụ là làm cho mọi người nhận biết Ðức Kitô, đi theo Chúa Kitô, xây dựng cộng đoàn và mở rộng Giáo Hội.
3/ Tinh Thần Của Thừa Tác Viên Thi Hành Sứ Vụ
3.1/ Trở Nên Thánh Để Cứu Rỗi Các Linh Hồn
Điều cần thiết nhất của thừa tác viên thi hành sứ vụ là lòng “khao khát phần rỗi các linh hồn,” và mở rộng Nước Chúa; đây là động cơ của mọi việc thi hành sứ vụ và của sự sẵn sàng từ bỏ mọi sự để dấn thân theo một ơn gọi. Trong các bài nguyện gẫm (208 bài) của Thánh Gioan La San, cụm từ “được cứu rỗi” có thể đếm được 80 lần. Điều này cho thấy Thánh Gioan La San nhắc các Sư Huynh cốt yếu của việc thi hành thừa tác vụ là lo sao cho các trẻ em và người nghèo được cứu rỗi.
Thánh thiện là điều kiện tiên quyết, cơ bản và không thay thế trong việc thực thi sứ vụ Giáo Hội. Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế xác định: ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu phát sinh từ ơn gọi nên thánh. Ơn gọi nên thánh của thừa tác viên có quan hệ chặt chẽ với thừa tác vụ loan báo Tin Mừng.7 Để tiến bước trên con đường nên thánh, các thừa tác viên cần có những điều cốt yếu sau:
(1) Tinh thần đức tin và lòng nhiệt thành là hai khía cạnh của một đời sống của người loan báo Tin Mừng, giống như hai mặt của đồng tiền, thiếu một trong hai khía cạnh này ta không thể là thừa tác viên của Chúa để thi hành sứ vụ Chúa trao.8
(2) Cầu nguyện phải là công việc chính yếu và có chỗ đứng cao trọng trong đời sống của người thi hành thừa tác vụ của Chúa; và chính Thiên Chúa cũng chỉ sẽ đổ xuống những ơn lành cho cộng đoàn và cho công cuộc trong chừng mực mà cộng đoàn ấy là một nhà cầu nguyện.9 Thừa tác viên cầu nguyện mỗi ngày phải làm chủ thân xác và tâm trí mình, thống nhất dần tâm tư tình cảm, các giá trị và các quyết định về một dự tính đức tin và đặt hết niềm tin vào Chúa, niềm tin bao gồm cả sự nắm vững giáo lý lẫn gắn bó, đi lại thân mật với Người.10
(3) Một đời sống thống nhất giữa hoạt động và đời sống tâm linh để trở nên sự toàn vẹn, đừng phân biệt cộng đoàn và hiến thánh hay tông đồ và thiêng liêng. Theo Thánh Gioan La San chúng ta là cộng đoàn được hiến thánh và được sai đi cho sứ mạng giáo dục để đem ơn cứu độ cho học sinh và cứu độ thế giới, do đó không có chuyện phân mảnh cái này hay cái kia hay phân thứ hạng cái này cao hơn, cần thiết hơn cái kia.11 Với Thánh Gioan La San “một nguyên tắc tốt cho đời sống là hoàn toàn không phân biệt công việc của bổn phận với công việc cứu rỗi và nên thánh của chúng ta.” 12
(4) Một đời sống khiêm nhường và khó nghèo, theo Thánh Gioan La San, đây là hai đức tính khiến các thừa tác viên có khả năng lôi kéo các linh hồn về với Chúa. Ngài dạy: “Không gì lôi kéo các linh hồn đến với Chúa cho bằng cách sống nghèo khó và khiêm hạ của những người muốn dẫn các linh hồn ấy về với Người.”13
(5) Trung tín trong những việc bổn phận thường ngày với một tình yêu dành cho Thiên Chúa. Và Thiên Chúa sẽ xét xử chúng ta về tình yêu. Trung tín trước hết là trung tín với bổn phận thiêng liêng, do vậy, thừa tác viên “trong bao nhiêu công việc liên tục kế tiếp nhau mỗi ngày, hãy cố gắng giữ mình kết hợp với Thiên Chúa là Đấng đã gọi, chọn và sai chúng ta đi.” 14
(6) Niềm vui của thừa tác viên là được làm theo thánh ý Chúa, được để cho ý Cha thể hiện, nước Chúa hiển trị và danh Chúa cả sáng... trong mọi đau khổ, sướng vui, trong những thách đố và cơ hội đưa đến, trong mỗi thành công hay thất bại. Các thánh đã kinh nghiệm một niềm vui rằng: Ai yêu mến Thiên Chúa trong mọi sự, cuối cùng rồi sẽ tìm thấy được Thiên Chúa trong mọi sự.
3.2/ Chọn Lựa Sống Theo Những Giá Trị Tin Mừng15
Làm môn đệ là bước theo Đức Kitô là chọn lựa sống theo những giá trị Tin Mừng. Người thánh hiến không thể thi hành sứ vụ, không thể truyền giáo, nếu không có một sự từ bỏ tận căn. Tin Mừng trình bày lời mời gọi theo Chúa là “hãy bỏ hết” (Mt 4:20), và sự từ bỏ tận căn để sống theo Tin Mừng được mô tả như:
+ người tìm được viên ngọc quý, anh ta bán hết mọi thứ để mua lấy (Mt 13:46), đối với anh ta chỉ cần có viên ngọc, còn mọi thứ khác là tương đối;
+ đó là một sự dứt khoát theo Chúa tới cùng: “đừng ngoái lại phía sau” (Lc 9:62), nghĩa là không chỉ mãi mãi, mà còn là tối đa, không giới hạn, hoàn toàn và trọn vẹn; chỉ phụng sự một mình Chúa thôi: “Không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền tài” (Mt 6:24);
+ phải chấp nhận lội ngược dòng: “vác thập giá mình mà theo Chúa” (Lc 14:2), nghĩa là từ bỏ những mạo nhận về việc bước theo Chúa Kitô – “sequela Christi”, theo Chúa Kitô không phải để có quyền bính, tiền bạc, uy tín, hay theo một ý thức hệ…,
+ nhưng là để “đem Tin Mừng đến cho người nghèo” (Mt 11:5), phục vụ anh em, nhất là những người nghèo khổ và bé nhỏ trong khiêm hạ, như người tôi tớ (Mc 10:42 – 44), hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người (Mc 10:45).
Chính Chúa Kitô đã đi con đường ấy, thì môn đệ của Ngài cũng phải bước đi trên cùng một con đường như thế. Đây là khía cạnh nghịch của người môn đệ nói chung, của đời sống thánh hiến nói riêng, nó làm nên văn hoá Kitô giáo, văn hoá đời tu.16
II/ SỨ VỤ VÀ THỪA TÁC VỤ LA SAN: Phục Vụ Giáo Dục Nhân Bản Và Kitô Giáo, Theo Thừa Tác Vụ Giáo Hội Đã Trao Phó
“Cứu cánh của Dòng là đem lại một nền giáo dục nhân bản và Kitô giáo cho giới trẻ, đặc biệt là trẻ nghèo, theo thừa tác vụ Giáo Hội đã trao phó cho Dòng” (LD 3). “Dòng quan tâm trước hết đến nhu cầu giáo dục của những ai mà phẩm chất và quyền cơ bản của học không được công nhận… tìm cách làm cho họ có thể sống xứng đáng với là con cái của Thiên Chúa.” (LD 13).
Việc thực thi sứ vụ, Anh Chị Em La San, trước hết, phải là một chứng tá đem Tin Mừng vào môi trường giáo dục, sống đời thánh hiến trong tình bác ái và liên đới, họ trở thành chứng nhân của tình huynh đệ trong một cộng đoàn thừa tác vụ, làm cho Nước Thiên Chúa trở nên hữu hình (LD 15), họ biện phân các cách thức thích hợp nhất để làm chứng cho các giá trị Phúc Âm, và trong chừng mực có thể, công bố Lời Chúa (LD 14; 14,1)
Một sứ vụ mà thiếu những tác vụ thì người tu sĩ sẽ sống mà thiếu mục tiêu định hướng đời tu của mình. Tuy nhiên khi thực thi các thừa tác vụ mà bỏ rơi hay giảm thiểu chiều kích tôn giáo, không đưa đến việc loan báo Tin Mừng cách minh nhiên thì các thừa tác viên làm méo mó trầm trọng sứ vụ của mình lãnh nhận nơi Giáo Hội, vì thế, không nên tách rời sinh hoạt huấn giáo và mục vụ ra khỏi hoạt động giáo dục.17
Những tác vụ của Dòng La San là thành lập và điều hành các trường học (LD 13), dấn thân vào việc thăng tiến công lý và hòa bình (LD 16.1; 17.1), thiết lập các hoạt động giáo dục khác để phục vụ người nghèo (LD 14), Phúc âm hoá và huấn giáo (LD 15; 17).18
Anh Chị Em La San xem nghề dạy học là một thừa tác vụ, kết hợp sự thăng tiến văn hóa với việc loan báo Tin Mừng và làm cho con người mở ra với ân sủng của Thiên Chúa và với ánh sáng đức tin (LD 16); cuộc sống và hoạt động của Anh Chị Em La San là một phần trọn vẹn của công cuộc Phúc Âm Hóa của Giáo Hội và việc Huấn giáo là chức năng chính của mình (LD 17). Họ làm cho cơ sở La San trở thành phương tiện cứu độ vào tầm tay mọi người, qua việc huấn luyện nhân bản có phẩm chất và bằng cách rao giảng minh nhiên Chúa Kitô (LD 17.1). Phân biệt một bên là giáo dục và một bên là huấn giáo và mục vụ, đó là thái độ không phù hợp với Luật và truyền thống của Dòng, “Sư Huynh coi việc dạy học của mình như một thừa tác vụ.” (LD 16)19 Họ cũng giúp cho các nhà giáo dục, các cộng tác viên giáo dân biến việc hành nghề chuyên môn trở nên một hình thức của thừa tác vụ Phúc Âm (LD 19.2).
Giáo dục người nghèo phải trở thành ưu tiên trong sứ vụ La San, nó thúc giục Anh Chị Em La San đáp trả cách quảng đại và táo bạo tìm ra những hình thức mới để phục vụ người nghèo qua giáo dục. Việc các Sư Huynh rút ra khỏi một trường học (trao lại quyền điều hành cho cộng tác viên giáo dân) để đi ra vùng ngoại biên nói lên rằng, do lời khấn, các tu sĩ La San có cam kết với việc giáo dục người nghèo và trong đức tin, họ được Thiên Chúa chọn cách đặc biệt để đem lại ơn cứu rỗi cho người nghèo và người hèn kém (LD 20).20
Các Sư Huynh phải “khởi động lòng nhiệt thành nơi mình” (LD 7). Một lòng nhiệt thành được tác động bởi sự xúc động trước cảnh khốn cùng của những trẻ em nghèo và được đức tin thúc đẩy, khiến “Sư Huynh lo lắng tìm cách đánh động lòng trẻ nhỏ”, sẵn sàng dâng hiến cách quảng đại thời giờ, tài năng và sức lực để phục vụ những người mà Thiên Chúa trao phó cho mình… Không ngừng cố gắng cải tiến khả năng, phẩm chất các mối quan hệ, chứng tá cuộc sống và sức mạnh của đức tin.” (LD 21).
Sứ Vụ La San cũng được thực hiện như là mối hiệp thông, mọi thành viên cùng hướng về một sứ mạng chung, Mỗi thành viên có trách nhiệm cùng với tất cả Anh Chị Em khác về chứng tá và về sự dấn thân tông đồ (LD 49a), sự hiệp thông huynh đệ trong cộng đoàn, đòi Sư Huynh trình các sáng kiến tông đồ của mình cho bề trên và anh em trong cộng đoàn để biện phân chắc chắn rằng hoạt động tông đồ ấy phù hợp với cứu cánh của Dòng (LD 16a).
Tu sĩ sống sung mãn tình huynh đệ thường và vẫn là một sự nâng đỡ quý giá cho sự kiên trì của các thành phần trong cộng đoàn tu sĩ… và như vậy nó trở thành cột trụ chống đỡ đức tin và sự trung tín của người tu sĩ.21
III/ NIỀM VUI CỦA NGƯỜI THI HÀNH SỨ VỤ
Hãy tự hào rằng Anh Chị Em là những người kế vị các Tông Đồ trong nhiệm vụ huấn giáo và giảng dạy người nghèo,22 được chính Thiên Chúa, Đấng truyền lệnh cho ánh sáng chiếu tỏa từ trong bóng tối, cũng chính Người đã soi sáng con tim Anh Chị Em để ra đi rao giảng Lời Người cho trẻ em, ngõ hầu họ có thể khai lòng mở trí cho trẻ bằng cách vạch cho chúng thấy vinh quang Thiên Chúa.23
Hãy lấy làm vinh dự được kế nghiệp các thánh Tông Đồ trong việc trình bày giáo lý của Chúa Giêsu Kitô và trong việc củng cố luật thánh của Người, trong trí nhớ và trong lòng những người Anh Chị Em dạy, tỏ bày chân lý cho những trẻ mà Anh Em có phận sự giảng dạy; và trong các bài dạy, Anh Em phải hết sức chú tâm, tự coi mình như “những đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa.” (1Cr 4:1).24
Anh Chị Em phải “quý trọng thừa tác vụ của mình, mong sao nhờ vậy mà …cứu được một vài người.” (Rm 11:13-14); vì Anh Chị Em đã được tuyển chọn để rao giảng các chân lý Tin Mừng cho những người trẻ và đem đến cho chúng những phương tiện cứu rỗi vừa tầm tay của chúng. Vì đó là chức năng chính của Anh Chị Em.25
Anh Em hãy cảm tạ Thiên Chúa vì hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho là được chia sẻ thừa tác vụ của các thánh Tông Đồ và của các giám mục và các mục tử của Giáo Hội. Mối quan tâm chính của các Tông Đồ, là sau khi dạy dỗ các tín hữu tiên khởi, là cho họ được lãnh nhận các bí tích, tụ tập để cùng nhau cầu nguyện, và sống theo tinh thần Kitô giáo.26 Do đó, “trên hết mọi sự, đây là điều mà Anh Chị Em bắt buộc phải làm trong thừa tác vụ của Anh Em, để noi gương các Tông Đồ, Anh Em phải đặc biệt quan tâm đến những người mà Anh Em có trách nhiệm dạy dỗ được lãnh nhận các bí tích.” 27
Thiên Chúa ban thưởng cho những ai nhiệt thành cứu rỗi các linh hồn là cho họ được tràn đầy ân sủng, được an ủi khi thấy những kẻ mình dạy dỗ biết phụng thờ Thiên Chúa và cho thừa tác vụ của họ được mở rộng. Ôi thật hạnh phúc khi Anh Chị Em được làm việc trong cánh đồng của Đức Chúa, hãy lo chu toàn bổn phận với lòng nhiệt thành và mộ mến.28 Đây là một vinh dự lớn lao và Anh Chị Em phải hết lòng cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban thưởng cho Anh Chị Em phần thưởng ngay từ đời này.
IV/ CÁCH THỨC ĐỂ TRỞ NÊN THỪA TÁC VIÊN CỦA CHÚA KITÔ VÀ CỦA GIÁO HỘI THI HÀNH SỨ VỤ
Để xứng đáng là thi hành thừa tác vụ với tư cách là “thừa tác viên của Thiên Chúa và của Giáo Hội”, là “đại sứ của Chúa Kitô”, chúng ta được mời gọi tập luyện cho mình có khả năng hoạt động giáo dục trong chiêm niệm và chiêm niệm giữa các hoạt động giáo dục. Tập luyện có được kinh nghiệm về Thiên Chúa ngang qua cầu nguyện và tập nhận ra Chúa, chiêm ngắm Người trong khuôn mặt của các trẻ em mà anh em sẽ gặp gỡ trong các hoạt động giáo dục hàng ngày. “Vì đi truyền giáo mà không có kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa qua cầu nguyện và chiêm niệm, thì ảnh hưởng được rất ít về mặt thiêng liêng, hoặc chẳng thành công được bao nhiêu về mặt truyền giáo.”29
Dựa vào những hướng dẫn trong Luật Dòng, chúng ta có thể nêu lên những cách thức sau đây để tập luyện trở nên thừa tác viên của Thiên Chúa và của Giáo Hội khi thi hành sứ vụ:
(1) Đào sâu mối hiệp thông với Thiên Chúa, qua việc ý thức về sự hiện diện của Người và yêu mến và phục vụ Ngài nơi những người được trao phó cho chúng ta (LD 63); nhận ra Chúa Giêsu nơi những trẻ em và người nghèo, trong những bộ áo quần rách rưới và thờ lạy Ngài (LD 64)
(2) Quan tâm đến đời sống kinh nguyện cá nhân và tìm kiếm những giây phút thinh lặng trong ngày (30 phút mỗi ngày) (x. LD 65.1); không phân biệt kinh nguyện với việc tông đồ, biết đưa vào kinh nguyện những gì làm nên thừa tác vụ của mình (LD 68). Ít là mỗi ngày tham dự cử hành Phụng vụ Giờ kinh (Kinh Thần Vụ) vào giờ buổi sáng và buổi chiều (LD 73)
(3) Năng đọc Lời Chúa mỗi ngày và tìm thấy nguồn mạch chính của đời sống qua việc cầu nguyện với Lời Chúa (LD 67). Đặc biệt yêu mến nguyện gẫm và xem làm việc chính yếu trong công việc hằng ngày (LD 69)
(4) Xét mình hằng ngày: trong thinh lặng, duyệt xét đời mình dưới ánh sáng Lời Chúa và tìm thấy trong việc thực hành thiêng liêng này sự trợ giúp để lớn lên về đời sống thiêng liêng (LD 70);
(5) Đến với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể (LD 74) và Bí tích Hòa Giải (LD 72.2)
(6) Yêu mến, tôn kính và noi gương Đấng Sáng Lập, thấm nhuần những tư tưởng tâm tình và gương sáng cùng những lời chỉ dạy của Ngài (LD 76)
V/ THAY LỜI KẾT: HÀNH ĐỘNG DẬY MEN
Khi chọn bước theo Chúa Giêsu để trở nên thừa tác viên của Thiên Chúa và của Giáo Hội, trở nên đại sứ của Chúa Kitô – tôi xác tín rằng, trước hết là tôi để cho mình được Chúa biến đổi thành phương tiện trong bàn tay quan phòng của Chúa (trở nên chứng nhân) và để Ngài dùng tôi như khí cụ bình an giúp biến đổi những người tôi gặp gỡ.
Khi thi hành thừa tác vụ, tôi có yêu thích dành thời gian cho việc dạy giáo lý (giới thiệu về Chúa Giêsu), sẵn sàng giúp cho những ai Chúa trao phó cho mình được học biết cách tham dự thánh lễ và xưng tội cho sốt sắng không; hay chỉ thích thú làm những việc của người đời và dạy những kiến thức các môn khoa học và xã hội.30
Khi đến với những người tôi được trao phó (dạy dỗ hay phục vụ), tôi có quan tâm giúp họ những điều họ cần phải biết, tùy theo tuổi tác, hoàn cảnh và khả năng của họ chăng; tôi có bỏ bê, loại trừ một vài người, hay trẻ em vì họ kém cỏi, chậm trí (dốt), hay vì họ nghèo. Hoặc tôi có thích và chú tâm chăm sóc riêng một vài người hay trẻ em nào đó bởi vì họ giàu có, hay học giỏi, dễ thương, lanh lợi hơn những người, những trẻ em khác chăng.31
Chúng ta hãy mạnh dạn ra đi thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, đừng sợ hãi, đừng ngần ngại, can đảm đến những vùng ngoại biên [về địa lý cũng như về tình trạng sống] bởi vì, như các Tông Đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần (x. Cv 2:10-20), qua việc cầu nguyện, Chúa Thánh Thần sẽ ban sức mạnh cho tôi để đủ sức thi hành thánh ý Chúa.
|
PHẢN TĨNH = Hãy soi mình 1. Đâu là sứ vụ, đâu là những thừa tác vụ của Hội Dòng đã nhận lãnh từ Giáo Hội. Tôi ý thức như thế nào về những thừa tác vụ mà tôi đang đảm nhận có theo đúng sứ vụ của Hội Dòng không? 2. Khi thi hành thừa tác vụ được trao phó, tôi có ý thức rằng, việc đầu tiên mà tôi cần làm là “truyền giáo” không? Tôi đã thể hiện / biểu lộ trong các phận vụ hằng ngày (qua lời nói, qua cử chỉ, hành vi trong đời sống…) để minh nhiên giới thiệu về Chúa Kitô, về Nước Thiên Chúa? 3. Tôi còn có điều gì chưa từ bỏ để phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng đối với người “môn đệ thừa sai”. Chọn một điều tôi cho là quan trọng nhất, khi chỉnh sửa điều này, tôi thay đổi chính mình… 4. Tôi có niềm vui nào trong khi thi hành thừa tác vụ của mình… Hãy dành thời gian chiêm ngưỡng kỳ công Chúa đã thực hiện ngang qua sự đáp trả của con người hữu hạn của tôi khi thi hành thừa tác vụ của mình. Tạ ơn Chúa… |
SH. Giuse Lê Văn Phượng, fsc

1. Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 178
2. Catherine M. Harmer, Đời tu trong thế kỷ XXI (La vie relegieuse au XXI, Édition Bellarmin, 1997), trang 51
3. Catherine M. Harmer, sđd, trang 52
4. Catherine M. Harmer, sđd, trang 50
5. Catherine M. Harmer, sđd, trang 53
6. Catherine M. Harmer, sđd, trang 55 - 56
7. ĐGH Gioan Phaolô II (07/12/1990), Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế (Redemtoris Missio) số 90
8. Luật Dòng Các Sư Huynh Trường Kitô Giáo số 6: Tinh thần đức tin khiến Sư Huynh “nhìn mọi sự bằng cặp mắt đức tin, làm mọi sự vì Chúa và quy mọi sự về Chúa”. Trong đức tin, Sư Huynh đánh giá mọi thực tại trần thế theo ánh sáng Phúc Âm. Trong đức tin, Sư Huynh nhận ra Thiên Chúa hiện diện trong công việc, trong niềm vui và nỗi lo của mình. Trong đức tin, Sư Huynh tập nhận ra dấu chỉ và tiếng gọi của Thần Khí trong từng biến cố, nơi mỗi người, và nhất là nơi người nghèo. Trong đức tin, là “cộng tác viên của Chúa Giêsu Kitô”, Sư Huynh dâng trọn đời mình cho việc xây dựng Nước Thiên Chúa bằng công tác phục vụ giáo dục. Trong đức tin, như Đấng Lập Dòng, Sư Huynh phó mình cho Chúa dẫn dắt.
9. Xem thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm số 62,1
10. TLL 455, Văn Kiện Tổng Công Hội 44, I,2,2.4. Bản tiếng Việt do VPGT TDLSVN trang 14
11. Dòng La San, TLL 466, 2.9. Roma 1/1/2013
12. Xem Cahiers Lasalliens, 8 p. 318-319
13. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm 86,3
14. Luật Dòng các Sư Huynh Trường Kitô Giáo (1987) số 68. X. SH. John Johnston, Thư Mục Vụ 1996 - Năm Cầu Nguyện - Mục Cầu Nguyện Riêng.
15. SH. Alvaro Rodriguez – Tổng Quyền, Thư Mục Vụ 2003
16. SHTQ Alvaro, Thư Mục Vụ, ngày 03.03.2003.
17. John Johnston, Thư Mục Vụ 1993, Mục VI (x. trang 54)
18. Robert Schieler, fsc, Hướng Dẫn Học Hỏi Luật Dòng Các Sư huynh Trường Kitô, Rôma 1996.
19. John Johnston, Thư Mục Vụ 1993, V (x. trang 50)
20. Luke Salm, Lasallian Themes 1.
21. Thánh bộ Tu sĩ và Tu Hội đời, Đời sống huynh đệ cộng đoàn, 1994
22. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm Tuần Tĩnh Tâm số 200.1
23. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm Tuần Tĩnh Tâm số 193,1.1
24. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm Tuần Tĩnh Tâm số 193,1.2
25. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm Tuần Tĩnh Tâm số 193,3.1
26. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm Tuần Tĩnh Tâm số 193,3
27. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm Tuần Tĩnh Tâm số 200,2
28. Thánh Gioan La San, Bài Suy Gẫm Tuần Tĩnh Tâm số 207,1.2
29. ĐGH Gioan Phaolô II (06/11/1999), Tông huấn Giáo Hội Á Châu (Ecclesia in Asia), số 23
30. Gioan La San, Bài Suy Gẫm 206,1.3
31. Gioan La San, Bài Suy Gẫm 206,1.2